20-11 là ngày gì? Nguồn gốc, ý nghĩa của ngày Nhà giáo Việt Nam
Anh hùng dân tộc thiểu số - Tập 3

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
Ngày gửi: 16h:02' 07-02-2025
Dung lượng: 3.0 MB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
Ngày gửi: 16h:02' 07-02-2025
Dung lượng: 3.0 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO XUẤT BẢN
Chủ tịch Hội đồng
PGS.TS. PHẠM VĂN LINH
Phó Chủ tịch Hội đồng
PHẠM CHÍ THÀNH
Thành viên
TRẦN QUỐC DÂN
TS. NGUYỄN ĐỨC TÀI
TS. NGUYỄN AN TIÊM
NGUYỄN VŨ THANH HẢO
CÁC TÁC GIẢ
NGUYỄN NGỌC THANH (Chủ biên)
NGÔ THỊ CHANG
PHAN THỊ HẰNG
NGUYỄN LINH HƯƠNG
LÊ THỊ KIM OANH
NGUYỄN THANH TÙNG
PHẠM HÀ XUYÊN
5
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Thế kỷ XX, đất nước ta đã phải trải qua các cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm
lược, chiến tranh biên giới Tây Nam, chiến tranh biên
giới phía Bắc để bảo vệ Tổ quốc. Trong các cuộc chiến
tranh ấy, đồng bào dân tộc thiểu số đã có những đóng
góp vô cùng to lớn. Bất chấp hiểm nguy, đã hòa mình
vào công cuộc kháng chiến kiến quốc dưới sự lãnh đạo
của Đảng. Hàng vạn thanh niên các dân tộc thiểu số
đã lên đường nhập ngũ, tham gia lực lượng dân quân
tự vệ. Trong các bản làng, bà con nuôi giấu và bảo vệ
cán bộ, bộ đội; tham gia tiễu phỉ, trừ gian, bố phòng
chiến đấu, chống càn, phục vụ hậu cần cho chiến trận.
Từ đó, đã xuất hiện nhiều tấm gương trung kiên, tiêu
biểu sẵn sàng xả thân vì lý tưởng cách mạng, mãi mãi
là niềm tự hào của dân tộc. Nhiều chiến sĩ là người dân
tộc thiểu số đã được phong tặng, truy tặng danh hiệu
cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Trong lao động, sản xuất cũng xuất hiện những
Anh hùng Lao động ở các nhà máy, xí nghiệp, hợp tác
xã, công trường nông - lâm nghiệp,... là con em của
đồng bào dân tộc thiểu số. Họ tích cực tăng gia sản
6
ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 3
xuất, cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động,
cải thiện cuộc sống trên quê hương, đóng góp nghĩa vụ
với nhà nước, cổ vũ, khích lệ bà con dân tộc miền núi
cùng nhau đoàn kết vươn lên.
Trân trọng công lao, đóng góp của các Anh hùng
Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động đối với sự
nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản bộ sách Anh
hùng người dân tộc thiểu số gồm 3 tập, do
PGS.TS. Nguyễn Ngọc Thanh - Trung tâm Thông tin
văn hóa các dân tộc làm chủ biên.
Nội dung cuốn sách không chỉ là sự tri ân đối với
các anh hùng dân tộc thiểu số, mà còn có ý nghĩa giáo
dục truyền thống yêu nước, đấu tranh cách mạng và
lao động sản xuất đối với thế hệ trẻ ngày nay.
Để bạn đọc thuận tiện theo dõi, tên các nhân vật
được sắp xếp theo vần chữ cái tiếng Việt. Tập 1 gồm
tên các nhân vật từ chữ cái A đến chữ cái K; tập 2 gồm
tên các nhân vật từ chữ cái L đến chữ cái S; tập 3 gồm
tên các nhân vật từ chữ cái T đến chữ cái Y.
Xin giới thiệu bộ sách cùng bạn đọc.
Tháng 7 năm 2016
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
7
LỜI NÓI ĐẦU
Là một đất nước có diện tích không lớn, song
Việt Nam luôn phải hứng chịu những cuộc chiến
tranh khốc liệt trong suốt chiều dài lịch sử hàng
ngàn năm dựng nước và giữ nước. Để có nền hòa
bình, độc lập ngày nay, biết bao xương máu của
thế hệ người con các dân tộc trên đất nước Việt
Nam đã phải đổ xuống. Trải qua các cuộc chiến
tranh, tinh thần yêu nước, ý chí quật cường luôn
được thắp sáng trong mỗi người con đất Việt,
không kể vùng miền, thành phần dân tộc. Cũng
từ những cuộc chiến tranh đó, nhiều người con đã
trở thành những anh hùng, những tấm gương
sáng cho các thế hệ con em mai sau.
Trong thời kỳ lịch sử hiện đại, trải qua các
cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp, đế quốc
Mỹ xâm lược hay chiến tranh biên giới Tây Nam,
chiến tranh biên giới phía Bắc, nhiều tấm gương
anh dũng của các chiến sĩ trên khắp các mặt trận
đã được ghi nhận, trong số đó có nhiều chiến sĩ là
những người con của đồng bào các dân tộc thiểu
số. Trong mỗi cuộc chiến, ở các địa phương, lực
8
ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 3
lượng dân quân tự vệ là người dân tộc thiểu số đã
phát triển nhanh. Hàng vạn thanh niên các dân
tộc lên đường nhập ngũ. Các chiến sĩ dân tộc
thiểu số đã hòa vào dòng người “Xẻ dọc Trường
Sơn đi cứu nước”, đã vượt lên mất mát, hy sinh,
tham gia kháng chiến với nhiều hình thức phong
phú, cả trực tiếp và gián tiếp, cả ở vùng căn cứ,
vùng tự do cũng như vùng địch hậu; tham gia trừ
gian, bố phòng chiến đấu, chống càn, phục vụ hậu
cần cho chiến trận. Trong chiến đấu, đồng bào các
dân tộc thiểu số luôn ngoan cường, lập nhiều
chiến công oanh liệt. Nhiều người đã hiến dâng cả
xương máu vì độc lập, tự do và thống nhất Tổ
quốc. Cũng từ trong cuộc chiến đấu ấy, đã xuất
hiện nhiều tấm gương trung kiên, tiêu biểu, mãi
mãi là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam như các
anh hùng: La Văn Cầu, Bế Văn Đàn, Nông Văn
Dền... cùng hàng vạn liệt sĩ đã anh dũng hy sinh.
Nhiều chiến sĩ là người dân tộc thiểu số đã được
phong tặng danh hiệu “Anh hùng quân đội”,
“Dũng sĩ diệt Mỹ”.
Trong các cuộc chiến tranh vĩ đại chống lại
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, chiến tranh biên
giới Tây Nam, chiến tranh biên giới phía Bắc,
đồng bào các dân tộc thiểu số và vùng miền núi
luôn tự hào bởi những điều thật đặc biệt: Đội
Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân - tiền
thân của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng
LỜI NÓI ĐẦU
9
được thành lập giữa vùng miền núi Cao Bằng,
với các thành viên đa số là đồng bào các dân tộc
thiểu số. Anh hùng Lực lượng vũ trang đầu tiên
của Quân đội nhân dân Việt Nam là một người
dân tộc Tày - đồng chí La Văn Cầu. Chiến thắng
Điện Biên Phủ - chiến thắng quan trọng nhất và
là chiến thắng cuối cùng quyết định đánh bại
thực dân Pháp đã diễn ra ở vùng miền núi.
Chiến thắng Buôn Ma Thuột năm 1975 - chiến
thắng đầu tiên nhưng tạo điều kiện để Đảng ta
quyết định mở chiến dịch Hồ Chí Minh giải
phóng miền Nam cũng xuất phát ở vùng đồng
bào các dân tộc Tây Nguyên. Những minh chứng
đó khẳng định: công lao và cống hiến của quân
dân đồng bào dân tộc thiểu số và địa bàn vùng
dân tộc miền núi - căn cứ địa cách mạng kháng
chiến của dân tộc đã đóng góp vô cùng to lớn vào
cuộc chiến đấu chung; là sự chia sẻ, gánh vác
trách nhiệm chung và đã góp phần vào thắng lợi
vẻ vang trước thử thách sống còn của đất nước
Việt Nam anh hùng.
Giờ đây, sau hơn 40 năm miền Nam giải phóng,
thống nhất đất nước, đồng bào các dân tộc thiểu số
đang chung tay cùng với đồng bào cả nước trong
công cuộc xây dựng đất nước trên mọi phương
diện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội vì mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
10
ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 3
Bộ sách Anh hùng người dân tộc thiểu số
gồm 3 tập sẽ đem đến cho bạn đọc những thông
tin cụ thể về những người con ưu tú đại diện cho
tinh thần, ý chí chiến đấu bảo vệ và xây dựng quê
hương, đất nước của đồng bào các dân tộc thiểu
số. Biên soạn bộ sách này, chúng tôi hy vọng sẽ
đem đến cho bạn đọc những hiểu biết nhất định
về thân thế cũng như thành tích của các anh
hùng người dân tộc thiểu số. Qua đó, sẽ giúp cho
bạn đọc, nhất là thế hệ trẻ thêm yêu Tổ quốc,
sống và cống hiến hết mình cho sự nghiệp phồn
vinh của đất nước.
Trong bộ sách này, chúng tôi sắp xếp tên các
anh hùng dân tộc thiểu số theo vần A, B, C,... để
tiện cho việc tra cứu thông tin của bạn đọc.
Mặc dù chúng tôi đã có nhiều cố gắng trong
thu thập các nguồn tư liệu, nhưng không thể tránh
khỏi những thiếu sót. Ban biên soạn mong nhận
được những ý kiến đóng góp quý báu của bạn đọc
để bộ sách được hoàn thiện và đầy đủ hơn trong
lần xuất bản sau.
Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!
BAN BIÊN SOẠN
11
VÀNG LÝ TẢ
Anh hùng Vàng Lý Tả sinh năm 1926, là
người dân tộc Mông, quê ở xã Kim Bon, huyện
Phù Yên, tỉnh Sơn La. Khi hy sinh, anh là liên lạc
viên của huyện.
Năm 1947, dưới sự lãnh đạo của tổ chức đảng,
Vàng Lý Tả đã tích cực hoạt động cùng với cán bộ
kháng chiến. Suốt 5 năm hoạt động (1947 - 1951),
Vàng Lý Tả đã vận động các gia đình nuôi giấu
cán bộ và trở thành cơ sở cách mạng.
Trong thời gian làm liên lạc, chạy công văn,
thư từ bí mật từ huyện đến xã, Vàng Lý Tả luôn
được cán bộ tin cậy, không bao giờ để mất mát,
nhầm lẫn tài liệu. Không chỉ làm liên lạc, anh còn
kết hợp đi thu thập tin tức hoạt động của địch về
báo cáo cho cơ sở, vì vậy cơ sở hoạt động có hiệu
quả, an toàn.
Tháng 8-1951, do bị chỉ điểm, Vàng Lý Tả bị
địch bắt. Chúng tra tấn anh cực kỳ dã man (dội
nước sôi vào đầu, tẩm dầu vào tay đốt, nhúng tay
vào axít...) nhưng Vàng Lý Tả không hề hé răng
12
ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 3
khai báo, quyết bảo vệ cách mạng, bảo vệ nhân
dân. Không khuất phục được, giặc đem anh đi xử
bắn. Vàng Lý Tả đã anh dũng hy sinh.
Ngày 11-6-1999, Vàng Lý Tả được Nhà nước
truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ
trang nhân dân1.
_____________
1. Xem Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội đồng Thi
đua - Khen thưởng Trung ương: Chân dung anh hùng
thời đại Hồ Chí Minh, Nxb. Lao động, Nxb. Quân đội
nhân dân, Hà Nội, 2000, t.I, tr.240.
13
LỘC VIỄN TÀI
Anh hùng liệt sĩ Lộc Viễn Tài sinh năm 1940,
là người dân tộc Tày, quê ở xã Vĩ Thượng, huyện
Bắc Quang, tỉnh Hà Giang, công tác tại Đồn 155,
Công an nhân dân vũ trang Hà Tuyên, giữ chức
vụ Đồn trưởng Đồn 155.
Khi cuộc chiến tranh biên giới nổ ra, Lộc Viễn
Tài đang công tác tại đồn Công an nhân dân vũ
trang biên phòng Lũng Làn (Đồn 155) tại vùng
biên giới thuộc hai xã Sơn Vĩ và Sìn Cái, huyện
Mèo Vạc, tỉnh Hà Tuyên.
Sáng ngày 17-2-1979, hai tiểu đoàn bộ binh
địch dồn dập bắn pháo cối dọn đường, theo đường
mốc 138 và 140 ồ ạt tấn công Đồn 155. Lộc Viễn
Tài chỉ huy mũi chính diện, trực tiếp bắn đại liên
vào đội hình địch. Phát hiện 3 tên chỉ huy của
địch, Lộc Viễn Tài đã lệnh cho cối bắn và tiêu diệt
chúng. Đơn vị bẻ gãy nhiều đợt tấn công của địch,
tiêu diệt và làm bị thương gần 100 tên, tạo điều
kiện cho hai mũi khác diệt, làm bị thương gần 100
tên nữa. Bị thiệt hại nặng, địch cho bộ binh lui ra
14
ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 3
để củng cố đội hình, đồng thời cho pháo bắn cấp
tập vào trận địa ta. Nhưng khi bộ binh địch lại
xông lên, chúng đã bị cán bộ, chiến sĩ Đồn biên
phòng 155 đánh bật ra.
Ngày 5-3-1979, địch tập trung lực lượng
quyết chiếm Đồn 155 và cao điểm 1379 của ta.
Chúng cho pháo bắn trước, sau dùng bộ binh chia
thành nhiều mũi ồ ạt tấn công, nhưng bị quân ta
chống trả quyết liệt và đánh bật ra. Địch buộc
phải tăng cường lực lượng. Lợi dụng thời tiết
nhiều sương mù, Lộc Viễn Tài tổ chức lực lượng
phục kích, dồn địch vào trận địa đã được bố trí
hầm chông, bãi mìn gài sẵn, tiêu diệt nhiều tên
địch, buộc chúng phải rút quân để củng cố đội
hình. Trong trận chiến chống lại đợt tấn công tiếp
theo, Lộc Viễn Tài đã chỉ huy một tổ chặn đánh từ
xa, chia cắt đội hình địch ra từng mảng để dễ tiêu
diệt. Nhưng quân địch quá đông, đạn sắp hết, anh
lệnh cho hai chiến sĩ rút lui, còn mình dùng
những viên đạn cuối cùng ghìm chân địch, bảo vệ
đồng đội. Trong tay còn hai quả lựu đạn, Lộc Viễn
Tài chờ địch đến gần, giật nụ xòe, ném vào đội
hình địch, tiêu diệt và làm bị thương gần chục
tên, còn anh đã anh dũng hy sinh. Trong các trận
chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc riêng anh đã
diệt và làm bị thương 91 tên.
Khi hy sinh, Lộc Viễn Tài là đảng viên Đảng
Cộng sản Việt Nam, mang quân hàm Thượng úy.
LỘC VIỄN TÀI
15
Tên anh cùng 16 cán bộ, chiến sĩ Đồn 155 hy sinh
trong những năm bảo vệ biên giới đã được khắc
trên bia đá đặt gần đồn biên phòng Lũng Làn để
người dân đời đời tưởng nhớ công ơn1.
Lộc Viễn Tài được truy tặng Huân chương
Quân công hạng Ba. Ngày 19-12-1979, Lộc Viễn
Tài được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng
Lực lượng vũ trang nhân dân.
_____________
1. Xem http://thanhnien.vn/thoi-su/bien-cuong-noianh-nga-xuong-ky-2-noi-nui-da-khac-ten-436609.html
16
THANH MINH TÁM
Anh hùng Thanh Minh Tám (A Núk) sinh
năm 1935, là người dân tộc Hrê, quê ở xã Hiếu,
huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum. Khi được tuyên
dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, Trung đội
trưởng, Đại đội phó đặc công, Khu 9 Gia Lai.
Mới 15 tuổi, Thanh Minh Tám đi theo cách
mạng, ba năm liền làm liên lạc cho huyện đội,
anh không quản ngại vất vả, khó khăn, liên tục
chuyển công văn, chỉ thị của huyện xuống cơ sở
một cách an toàn.
Tháng 9-1953, Thanh Minh Tám vào bộ đội
huyện. Năm 1954 được tập kết ra Bắc, đi học đặc
công đến tháng 8-1960, anh trở về quê hương
tham gia chiến đấu ở đại đội đặc công, làm Tiểu
đội phó.
Trong 6 năm, 1960-1966, Thanh Minh Tám đã
đánh và chỉ huy đơn vị chiến đấu tại chiến trường
Gia Lai, trưởng thành từ tiểu đội lên đại đội phó.
Anh đã chỉ huy đơn vị đánh 16 trận lớn, nhỏ, cùng
đơn vị diệt 3 trung đội bảo an, 2 tiểu đội dân vệ, 1
đoàn bình định và 42 lính Mỹ. Đặc biệt trong trận
THANH MINH TÁM
17
đánh vào sân bay Plâyku, Thanh Minh Tám đã
chỉ huy đơn vị phá 42 máy bay, diệt 70 lính Mỹ.
Riêng anh diệt 22 tên, thu 13 súng các loại, 3 máy
bay thông tin PRC10, 1 thùng đạn, đánh sập 1
nhà, diệt tên đại tá Mỹ chỉ huy sân bay, phá hủy 8
máy bay1.
Anh đã được tặng Huân chương Chiến công
hạng Nhất, 7 bằng khen và giấy khen Dũng sĩ
diệt Mỹ cấp ưu tú, Dũng sĩ diệt máy bay.
Ngày 17-9-1967, Thanh Minh Tám được Ủy
ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng
miền Nam Việt Nam tặng thưởng danh hiệu Anh
hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
_____________
1. Xem “24 đơn vị anh hùng và 46 cá nhân Anh
hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam vừa được
phong tặng”, Báo Quân đội nhân dân, số 2291, ngày
13-10-1967, tr.3.
18
PI NĂNG TẮC
Anh hùng Pi Năng Tắc sinh năm 1910, là
người dân tộc Raglai, quê ở xã Phước Thành (nay
thuộc huyện Bác Ái), huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh
Thuận. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí
là đảng viên, Chính trị viên phó Huyện đội.
Anh tham gia cách mạng vào năm 1946. Trải
qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống
Mỹ, Pi Năng Tắc luôn chiến đấu hết mình, hoàn
thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Năm
1956, khi Mỹ - Diệm tiến hành dồn dân hai thôn
của xã Phước Thành về khu tập trung. Năm 1958,
Pi Năng Tắc trốn khỏi làng lên ở suốt sáu tháng
trong rừng, luồn qua hoang rậm, trèo qua các
dãy núi đá để liên lạc với các đồng chí đang hoạt
động cách mạng. Ngày 30 Tết năm Kỷ Hợi 1959,
Pi Năng Tắc cùng du kích quân và đồng bào
thiểu số đã tập hợp lực lượng lên đến 5.000
người, dùng vũ khí thô sơ đánh phá, đốt cháy các
khu tập trung của địch. Anh đã tổ chức cho bà
con kéo về làng cũ, lại cấy cày, chăn nuôi và
PI NĂNG TẮC
19
huấn luyện các kỹ thuật chiến đấu để sẵn sàng
chống lại các trận càn điên cuồng của giặc “cú vọ
xâm lăng”.
Sau đợt này, địch nghi ngờ, theo dõi gắt gao
nên tổ chức buộc phải điều Pi Năng Tắc về hoạt
động ở xã Phước Bình. Ở đây, cơ sở ta yếu, lại bị
tề ngụy đàn áp, kích động mâu thuẫn giữa các
dân tộc, tách dân tộc Churu rời xuống khu tập
trung, còn dân tộc Raglai ở trên núi... Trong
hoàn cảnh ấy, Pi Năng Tắc đã kiên trì tuyên
truyền, thuyết phục nhân dân, khi thì lên núi ở
với người Raglai, khi thì xuống khu tập trung ở
với người Churu, vạch rõ âm mưu, thủ đoạn của
địch, phân giải các mối bất hòa. Nhờ những nỗ
lực của Pi Năng Tắc mà đến tháng 6-1960 đã có
hơn 280 đồng bào1 bỏ khu “tập trung Tầm Ngân”
trở về làng cũ làm ăn. Sau một thời gian, bà con
hai dân tộc đã đoàn kết, họ cùng nhau tổ chức lễ
uống rượu ăn thề giúp nhau sản xuất và đấu
tranh chống địch. Ngoài ra, Pi Năng Tắc còn xây
dựng được hai cơ sở bí mật hoạt động trong xã và
vận động được ba tề điệp bỏ hàng ngũ địch về với
cách mạng. Thấy quần chúng đã giác ngộ, anh
cùng nhân dân phá khu tập trung, đưa đồng bào
_____________
1. Xem “Anh hùng quân đội Pi Năng Tắc - 20 năm
trời kiên trì sản xuất và chiến đấu”, Báo Quân đội
nhân dân, số 1524, ngày 25-5-1965, tr.3.
20
ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 3
lên núi, thành lập đội du kích, vót chông, gài mìn,
đào hầm, rào làng ngăn chặn và đánh địch.
Trong chiến đấu, Pi Năng Tắc đã có rất
nhiều sáng kiến đánh giặc, trong đó phải kể đến
bẫy đá. Anh cho đào vách núi, dựng các cây gỗ
lớn làm giàn, xếp đá lên trên, có lẫy tre gỗ, khi
giật lẫy là cả núi đá hộc lăn xuống giết giặc. Anh
cho làm các bẫy nỏ, các mũi tên ẩn trong các tán
lá, hễ có “động” là lập tức các mũi tên tre có tẩm
thuốc độc bắn ra như mưa. Trong các tán rừng,
còn có hệ thống tre nứa vót nhọn liên kết với
nhau thành bè mảng buộc thêm đá hộc thật
nặng, khi giật lẫy là chúng bay ra, cắm phập cả
một giàn, một phên vào kẻ thù. Có khi một giàn
chông xiên cả chục tên giặc một “nhát”. Trên mặt
đất, họ đào sẵn các hố sâu, rải lá mục và cây
rừng ngụy trang lên trên, khi giặc dẫm lên lá
mục, tên từ lòng đất bay lên như mưa, tên từ
trên tán rừng dội xuống vun vút, đặc biệt kinh
hoàng là đá hộc to bằng cả gian nhà lăn như trời
long đất lở... Liên tiếp các trận càn của giặc bị
nghĩa quân Pi Năng Tắc bẻ gãy.
Tháng 5-1960, địch càn lên núi bị du kích
đánh, diệt và làm bị thương 20 tên buộc chúng
phải rút chạy. Trận chống càn năm 1962, một tiểu
đoàn lính ngụy, một đại đội lính bảo an, rồi cả
lính Mỹ cùng tổ chức trận càn lớn lên Phước Bình,
quyết tiêu diệt “đám giặc cỏ” lẩn lút trong rừng
PI NĂNG TẮC
21
sâu. Từ trên núi cao, 3 tổ du kích đã được Pi Năng
Tắc bố trí lừa, dụ địch vào ổ phục kích, 17 bẫy đá,
nhiều mang cung, hầm chông và hàng vạn mũi
tên tẩm thuốc độc đã ra sức tiêu diệt địch. Hơn
100 tên chết thảm, ta thu về chiến lợi phẩm là
5.000 viên đạn, 27 khẩu súng, nhiều quân trang
quân dụng khác.
Tháng 5-1961, giặc lại càn lần thứ hai với 350
tên, có máy bay, đại bác yểm hộ. Pi Năng Tắc
cùng đồng đội chờ cho địch lọt vào ổ phục kích rồi
dùng cung tên, bẫy đá tiêu diệt chúng. Cuộc chiến
đấu diễn ra suốt 3 tiếng đồng hồ từ 13 giờ đến 16
giờ chiều. Trong trận chống càn này, du kích đã
diệt và làm bị thương 80 tên1.
Ngoài ra, Pi Năng Tắc còn có nhiều thành tích
trong việc vận động phong trào sản xuất tự túc,
xây dựng cuộc sống mới.
Ngày 5-5-1965, Pi Năng Tắc được Nhà nước
tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng
hạng Nhì và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ
trang nhân dân.
_____________
1. Xem “Anh hùng quân đội Pi Năng Tắc - 20 năm
trời kiên trì sản xuất và chiến đấu”, Báo Quân đội
nhân dân, số 1524, Tlđd, tr.3.
22
HOÀNG VĂN TẤM
Anh hùng liệt sĩ Hoàng Văn Tấm là người dân
tộc Thái, sinh năm 1958 tại xã Lay Nưa, huyện
Mường Lay, tỉnh Lai Châu (nay là xã Lay Nưa,
thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên).
Tháng 10-1975, Hoàng Văn Tấm tốt nghiệp
chương trình nghiệp vụ công an, được điều về
công tác tại Phòng Cảnh sát bảo vệ, Ty Công an
Lai Châu và được đề bạt làm Tiểu đội trưởng.
Tháng 2-1979, chiến tranh biên giới phía
Bắc xảy ra. Lúc này, với cương vị là Trung đội
phó, Hoàng Văn Tấm đã cùng các đồng đội trong
đơn vị vận động quần chúng chuẩn bị tinh thần
sẵn sàng sơ tán về tuyến sau. Trong trận chiến
đấu bảo vệ chốt C5, trước sự tấn công quyết liệt
của địch, Hoàng Văn Tấm đã cùng đồng đội
chặn đứng nhiều đợt tấn công của chúng, riêng
đồng chí đã tiêu diệt trên 10 tên địch và làm bị
thương nhiều tên khác. Trong trận chiến này,
Hoàng Văn Tấm và các đồng đội đã giữ vững
được chốt, nhưng do lực lượng quá chênh lệch,
HOÀNG VĂN TẤM
23
đồng chí đã anh dũng hy sinh ngay tại chiến
hào ngày 6-3-1979.
Ngày 13-8-1980, Hoàng Văn Tấm được Nhà
nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ
trang nhân dân. Khi hy sinh đồng chí là Trung
đội phó thuộc Tiểu đoàn Cảnh sát bảo vệ cơ động
Công an tỉnh Lai Châu.
24
NGUYỄN VĂN TẤN
Anh hùng Nguyễn Văn Tấn là người dân tộc
Tày, sinh năm 1942, tại xã Hà Vị, huyện Bạch
Thông, tỉnh Bắc Kạn. Khi được tuyên dương Anh
hùng, đồng chí là đảng viên, Chuẩn úy, Trung đội
trưởng sửa chữa xe tăng thuộc Đại đội 201, Tổng
cục Hậu cần.
Từ năm 1967 đến năm 1973, Nguyễn Văn Tấn
làm nhiệm vụ sửa chữa xe tăng, xe xích cho các
đơn vị chiến đấu ở Khu 4, Quảng Trị, đường 9 Nam Lào. Mặc dù địch đánh phá ác liệt, anh vẫn
thường xuyên theo sát các đơn vị chiến đấu để sửa
chữa xe. Bất kỳ lúc nào gặp xe hỏng mà cần sửa
gấp là anh làm ngay. Hàng chục lần đang sửa thì
máy bay địch đến bắn phá, anh vẫn bình tĩnh
thực hiện nhiệm vụ; ba lần bom nổ, bị đất đá vùi
lấp, ngất đi, khi tỉnh dậy anh lại tiếp tục công
việc. Anh chỉ huy trung đội sửa chữa được 150 lần
chiếc xe tăng, xe xích. Riêng anh sửa 60 lần chiếc
xe, phục vụ kịp thời cho chiến đấu.
Mặc dù là thợ sửa chữa điện xe nhưng do chịu
khó học hỏi, anh đã sửa chữa giỏi nhiều bộ phận
khác của xe tăng, xe xích (cả của ta và của địch)
NGUYỄN VĂN TẤN
25
và lái thành thạo các loại xe. Đặc biệt, Nguyễn
Văn Tấn luôn tích cực phát huy sáng kiến, cải
tiến kỹ thuật, trong đó có rất nhiều sáng kiến đã
được phổ biến trong các đơn vị nhờ đó mà các đơn
vị sửa chữa xe tăng ngày càng đạt được hiệu quả
cao trong công tác, như: nghiên cứu cải tiến ly hợp
của xe D-350 thay thế cho xe PT-C bảo đảm tốt;
cải tiến rà nấm xe AT-C trước đây hai người làm
mất 36 giờ, nay một người làm trong 20 giờ; trước
kia muốn kéo bánh tì xe AT-R thông thường phải
dùng búa đóng, nay anh làm thêm một bộ phận
tăng giảm xích, tạo thành một cái van tháo bánh
tì, đưa năng suất tăng gấp 3 lần; trước đây một
cái phớt dạ bánh tì hỏng sẽ không có phớt thay
thế, xe không hoạt động được thì nay anh có sáng
kiến dùng xăm, lốp ô tô cắt làm phớt, giải quyết
được khó khăn cho đơn vị,...
Anh đã 214 lần kéo giúp xe của đơn vị bị đổ
dọc đường, đào bới hầm bị bom đánh sập cứu
được 5 đồng đội, giúp đỡ nâng cao tay nghề cho 24
thợ sửa chữa.
Nhờ những thành tích đã đạt được trong công
tác, Nguyễn Văn Tấn được tặng thưởng 2 Huân
chương Chiến công hạng Ba, 4 lần là Chiến sĩ
quyết thắng, 6 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ
thi đua, 24 bằng khen, giấy khen.
Ngày 31-12-1973, Nguyễn Văn Tấn được Nhà
nước tặng thưởng danh hiệu Anh hùng Lực lượng
vũ trang nhân dân.
26
TRIỆU XUÂN TÂNG
Anh hùng Triệu Xuân Tâng (tức Triệu Xuân
Công) sinh năm 1946, là người dân tộc Nùng, quê
ở xã Quốc Dân, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao
Bằng. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí
là đảng viên, Thượng sĩ, Trung đội trưởng bộ binh
thuộc đoàn 28, Quân khu Tây Bắc.
Triệu Xuân Tâng làm nhiệm vụ giúp Lào
xây dựng cơ sở cách mạng ở tỉnh Luông Pha
Băng từ năm 1967 đến năm 1973. Anh kiên trì
bám đất, bám dân, tuyên truyền vận động quần
chúng tham gia phong trào cách mạng. Trong
chiến đấu, Triệu Xuân Tâng thể hiện tinh thần
tiến công tiêu diệt địch cao, chỉ huy trung đội
tiêu diệt trên 100 tên địch, bản thân diệt 26 tên.
Tháng 2-1968, anh cùng một chiến sĩ đi xây
dựng cơ sở ở bắc Huôi Nhang thì bị lộ, địch bao
vây, đánh úp. Đồng đội hy sinh, một mình anh
kiên cường đánh trả địch, diệt 8 tên. Khi rút,
Triệu Xuân Tâng còn cõng đồng đội về mai táng
chu đáo.
TRIỆU XUÂNG TÂNG
27
Trận đánh Phu Đăm ngày 14-4-1972, anh chỉ
huy tổ mũi nhọn đánh thọc vào giữa vị trí địch,
diệt sở chỉ huy, tạo điều kiện thuận lợi cho đồng
đội tiến lên diệt đại đội của địch. Trong trận này,
riêng anh diệt được 20 tên địch.
Không chỉ hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu
mà Triệu Xuân Tâng còn làm tốt nhiệm vụ xây
dựng cơ sở cách mạng. Anh đã cùng sống, cùng lao
động với nhân dân Lào và kiên trì học nói, đọc và
viết thành thạo ngôn ngữ bản địa, nhờ vậy mà
việc tuyên truyền giáo dục quần chúng nhân dân
có kết quả rất tốt. Triệu Xuân Tâng đã cùng các
cán bộ địa phương xây dựng được cơ sở cách mạng
ở 10 xã, bồi dưỡng được 7 cán bộ trong huyện.
Với những cống hiến của mình anh đã được
tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công hạng
Nhì, 1 Huân chương Chiến công hạng Ba, 6 bằng
khen, giấy khen.
Ngày 31-12-1973, Triệu Xuân Tâng được Chủ
tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng
thưởng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang
nhân dân.
28
TÀO VĂN TEM
Anh hùng Tào Văn Tem sinh năm 1956, là
người dân tộc Thái, quê ở xã Chà Tở, huyện Mường
Chà, tỉnh Điện Biên. Khi được tuyên dương Anh
hùng, anh là đoàn viên Đoàn Thanh niên Cộng sản
Hồ Chí Minh, Thượng sĩ, trinh sát viên, Đồn 1
Công an nhân dân vũ trang tỉnh Lai Châu.
Công tác trên địa bàn có nhiều đồng bào dân
tộc thiểu số sinh sống, Tào Văn Tem đã mày mò
và tự học tiếng của các dân tộc: Mông, Hà Nhì,
Dao. Nhờ vậy anh đã giành được sự tin yêu của
đồng bào, xây dựng được nhiều cơ sở vững chắc ở
địa bàn công tác.
Khi chiến tranh biên giới phía Bắc xảy ra,
được cấp trên giao nhiệm vụ chỉ huy một tổ
chiến đấu chặn đánh địch, Tào Văn Tem vừa
mưu trí dũng cảm chỉ huy, động viên đồng đội
chiến đấu vừa trực tiếp tham chiến. Anh cùng
đồng đội đã đẩy lùi đợt tấn công của địch và tiêu
diệt nhiều tên. Riêng anh diệt 10 tên, cùng toàn
tổ giữ vững trận địa, hoàn thành xuất sắc nhiệm
vụ được giao.
TÀO VĂN TEM
29
Chấp hành mệnh lệnh của cấp trên, Tào Văn
Tem chuyển hướng hoạt động trong địa bàn sau
lưng địch. Tào Văn Tem vừa chủ động nắm bắt
tình hình hoạt động của địch, vừa nâng cao tinh
thần cảnh giác, phòng ngừa các âm mưu, thủ
đoạn phá hoại mới của chúng. Dựa vào các cơ sở
đã xây dựng trước đây, Tào Văn Tem đã bắt và xử
lý nhiều tên phản động, chỉ điểm, thám báo của
địch, góp phần đập tan âm mưu nhen nhóm tổ
chức phản động, gây bạo loạn cướp chính quyền
của địch, bảo vệ tính mạng và tài sản nhân dân.
Dù hoạt động ở sau lưng địch, Tào Văn Tem vẫn
kịp thời tổ chức, củng cố đội ngũ dân quân, cùng
dân quân bám trụ chiến đấu bảo vệ địa bàn trước
các hành động phá hoại của quân địch1.
Với nhiều thành tích đạt được trong công tác
và chiến đấu, Tào Văn Tem đã được tặng thưởng
1 Huân chương Chiến công hạng Nhì. Ngày 1912-1979, Tào Văn Tem được Nhà nước phong
tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang
nhân dân.
_____________
1. Xem http://www.vnmilitaryhistory.net/index.
php?topic=185.30
30
HÀ VĂN THANH
Anh hùng Hà Văn Thanh sinh năm 1948, là
người dân tộc Thái, quê ở xã Lương Sơn, huyện
Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Khi được tuyên
dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, Thượng
sĩ, Trung đội phó Đại đội 11 ô tô vận tải, Tiểu
đoàn 51, Binh trạm 34, Đoàn 559.
Phục vụ trên một tuyến đường địch đánh phá
rất ác liệt, anh luôn nêu cao tinh thần trách
nhiệm, tận tụy, dũng cảm, mưu trí, dẫn đầu đơn vị
về vượt cung tăng chuyến đưa hàng tới đích
nhanh, đủ và tốt. Nhiều lần anh không quản nguy
hiểm, bật đèn sáng chạy rẽ sang hướng khác để
thu hút máy bay địch, cứu được cả đoàn xe của đơn
vị bạn1.
Từ năm 1969 đến năm 1972, Hà Văn Thanh
lái xe vận chuyển tuyến đường 559. Trong quá
_____________
1. Xem “75 đơn vị anh hùng và 21 anh hùng lực
lượng vũ trang nhân dân Việt Nam vừa được tuyên
dương”, Báo Quân đội nhân dân, số 4422, ngày 6-9-1973,
tr.4.
HÀ VĂN THANH
31
trình làm nhiệm vụ, mặc dù hàng chục lần máy
bay địch đánh phá khiến nhiều lần xe hỏng giữa
đường, nhiều ngày mưa lũ, đường lầy lội, khó đi,
nhưng anh vẫn quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ,
luôn dẫn đầu đơn vị về vượt cung, tăng chuyến
đưa hàng tới đích an toàn, đủ số lượng. Hà Văn
Thanh chạy 233 tuyến, có 146 chuyến vượt cung
độ từ 2 đêm/chuyến xuống 1 đêm/chuyến; chuyển
được 1.066 tấn hàng; khi về chuyển được 755
thương binh về phía sau an toàn; tiết kiệm được
1.500 lít xăng, thu nhặt được 3 tấn phụ tùng
máy móc ở các xe bị địch đánh hỏng và 2.340 vỏ
phuy xăng,...
Hà Văn Thanh đã nhiều lần dũng cảm cứu
người, cứu xe, cứu hàng, nêu gương tốt cho toàn
đơn vị học tập. Có lần đoàn xe của đơn vị vừa tới
trọng điểm thì máy bay địch ném bom. Bom nổ,
anh vẫn cố giữ thăng bằng, vượt ra khỏi bãi bom,
nhanh chóng sửa cả bốn lốp xe bị thủng, tiếp tục
đưa hàng tới đích an toàn. Có hai lần thấy đoàn
xe bị máy bay C130 đánh, Hà Văn Thanh mưu trí
bật đèn xe chạy sang hướng khác thu hút hỏa lực
địch, nhờ đó cả đoàn 12 chiếc chở đầy hàng được
an toàn. Có lần đang lái xe trên đường, gặp xe
bạn bị máy bay địch bắn cháy, anh đã dũng cảm
lao vào dập tắt lửa và nhanh chóng lái chiếc xe
đến nơi an toàn. Sau khi băng bó cho đồng đội chu
đáo, Hà Văn Thanh tiếp tục lái xe của mình đến
32
ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 3
đích đúng thời gian quy định. Anh đã kéo và sửa
chữa xe cho bạn 80 lần, bồi dưỡng giúp đỡ 8 đồng
chí trở thành lái chính.
Trong suốt những năm tháng trên chiến
trường, Hà Văn Thanh đã lái 38.221km an toàn.
Đồng chí được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến
công hạng Ba, 2 lần là Chiến sĩ quyết thắng, 5 lần
là Chiến sĩ thi đua, 42 bằng khen.
Ngày 3-9-1973, Hà Văn Thanh được Nhà
nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng
vũ trang nhân dân.
33
BẾ VĂN THÀNH
Anh hùng Bế Văn Thành sinh năm 1946, là
người dân tộc Tày, quê ở xã Hồng Quang, huyện
Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng. Khi hy sinh, đồng
chí là đảng viên, Thượng sĩ, Trung đội phó thuộc
Đại đội 3 bộ binh, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 48, Sư
đoàn 320, Quân đoàn 3.
Hoạt động trên chiến trường Trị Thiên và Tây
Nguyên từ năm 1966 đến năm 1974, Bế Văn Thành
khi làm chiến sĩ vận tải, lúc trực tiếp chiến đấu,
nhiệm vụ nào cũng hoàn thành xuất sắc.
Trong công tác vận tải, Bế Văn Thành đã vượt
qua nhiều khó khăn, nguy hiểm, chuyển được 60
tấn hàng ra mặt trận, bảo đảm số lượng, chất
lượng, đúng thời gian quy định. Trong chiến đấu,
anh luôn phát huy cao tinh thần xung phong,
gương mẫu, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Trong trận
đánh ngày 3-4-1973, địch tuy đông lại có xe tăng,
pháo binh, máy bay yểm trợ, phản kích vào trận
địa chốt của ta nhưng Bế Văn Thành vẫn động
viên anh em quyết tâm chiến đấu. Hết đạn, anh
34
ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 3
lấy súng cối địch để diệt địch, giữ vững chốt. Trận
này, anh diệt 10 tên, bắt sống 3 tên, thu 6 súng.
Năm 1974, trong trận tiêu diệt căn cứ làng
Siêu, Bế Văn Thành chỉ huy một bộ phận nhanh
chóng đánh chiếm lô cốt đầu cầu tạo điều kiện cho
toàn đơn vị xông lên diệt địch trong căn cứ. Sau
khi đã diệt xe bọc thép và một số hỏa điểm ở nơi
cửa mở, anh dẫn đầu đơn vị xông lên chiếm điểm
cao, chỉ huy đồng đội diệt từng mục tiêu. Trận
đánh sắp kết thúc thì anh bị thương nặng. Trước
lúc hy sinh, Bế Văn Thành còn trao súng và động
viên đồng đội tiếp tục truy quét địch.
Anh được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến
công giải phóng hạng Nhất, 1 Huân chương Chiến
đấu giải phóng hạng Ba, 4 lần được tặng danh
hiệu Dũng sĩ, 8 bằng khen.
Ngày 6-11-1978, Bế Văn Thành được Nhà
nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ
trang nhân dân.
35
GIÀNG A THÀO
Anh hùng Giàng A Thào sinh năm 1935, là
người dân tộc Dao, quê ở xã Sùng Đô, huyện Văn
Chấn, tỉnh Yên Bái. Khi được tuyên dương Anh
hùng, đồng chí là đảng viên, cán bộ xã Sùng Đô,
huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái1.
Giàng A Thào là một đảng viên người dân tộc
Dao, một cán bộ năng nổ của xã Sùng Đô, luôn
bền bỉ đến từng gia đình đồng bào các dân tộc vận
động xây dựng và củng cố hợp tác xã. Giàng A
Thào đã cùng với tập thể xã viên cày bừa, làm
ruộng bậc thang, phát triển chăn nuôi, mở rộng
diện tích trồng lúa. Anh còn tích cực vận động bà
con phát triển cây chè và một số loại cây công
nghiệp khác. Nhờ vậy, xã viên không những tự
túc được lương thực mà còn có đủ lương thực bán
cho Nhà nước, đời sống vật chất và văn hóa của xã
_____________
1. Xem Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Hội
đồng Thi đua - Khe...
Chủ tịch Hội đồng
PGS.TS. PHẠM VĂN LINH
Phó Chủ tịch Hội đồng
PHẠM CHÍ THÀNH
Thành viên
TRẦN QUỐC DÂN
TS. NGUYỄN ĐỨC TÀI
TS. NGUYỄN AN TIÊM
NGUYỄN VŨ THANH HẢO
CÁC TÁC GIẢ
NGUYỄN NGỌC THANH (Chủ biên)
NGÔ THỊ CHANG
PHAN THỊ HẰNG
NGUYỄN LINH HƯƠNG
LÊ THỊ KIM OANH
NGUYỄN THANH TÙNG
PHẠM HÀ XUYÊN
5
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Thế kỷ XX, đất nước ta đã phải trải qua các cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm
lược, chiến tranh biên giới Tây Nam, chiến tranh biên
giới phía Bắc để bảo vệ Tổ quốc. Trong các cuộc chiến
tranh ấy, đồng bào dân tộc thiểu số đã có những đóng
góp vô cùng to lớn. Bất chấp hiểm nguy, đã hòa mình
vào công cuộc kháng chiến kiến quốc dưới sự lãnh đạo
của Đảng. Hàng vạn thanh niên các dân tộc thiểu số
đã lên đường nhập ngũ, tham gia lực lượng dân quân
tự vệ. Trong các bản làng, bà con nuôi giấu và bảo vệ
cán bộ, bộ đội; tham gia tiễu phỉ, trừ gian, bố phòng
chiến đấu, chống càn, phục vụ hậu cần cho chiến trận.
Từ đó, đã xuất hiện nhiều tấm gương trung kiên, tiêu
biểu sẵn sàng xả thân vì lý tưởng cách mạng, mãi mãi
là niềm tự hào của dân tộc. Nhiều chiến sĩ là người dân
tộc thiểu số đã được phong tặng, truy tặng danh hiệu
cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Trong lao động, sản xuất cũng xuất hiện những
Anh hùng Lao động ở các nhà máy, xí nghiệp, hợp tác
xã, công trường nông - lâm nghiệp,... là con em của
đồng bào dân tộc thiểu số. Họ tích cực tăng gia sản
6
ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 3
xuất, cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động,
cải thiện cuộc sống trên quê hương, đóng góp nghĩa vụ
với nhà nước, cổ vũ, khích lệ bà con dân tộc miền núi
cùng nhau đoàn kết vươn lên.
Trân trọng công lao, đóng góp của các Anh hùng
Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động đối với sự
nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản bộ sách Anh
hùng người dân tộc thiểu số gồm 3 tập, do
PGS.TS. Nguyễn Ngọc Thanh - Trung tâm Thông tin
văn hóa các dân tộc làm chủ biên.
Nội dung cuốn sách không chỉ là sự tri ân đối với
các anh hùng dân tộc thiểu số, mà còn có ý nghĩa giáo
dục truyền thống yêu nước, đấu tranh cách mạng và
lao động sản xuất đối với thế hệ trẻ ngày nay.
Để bạn đọc thuận tiện theo dõi, tên các nhân vật
được sắp xếp theo vần chữ cái tiếng Việt. Tập 1 gồm
tên các nhân vật từ chữ cái A đến chữ cái K; tập 2 gồm
tên các nhân vật từ chữ cái L đến chữ cái S; tập 3 gồm
tên các nhân vật từ chữ cái T đến chữ cái Y.
Xin giới thiệu bộ sách cùng bạn đọc.
Tháng 7 năm 2016
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
7
LỜI NÓI ĐẦU
Là một đất nước có diện tích không lớn, song
Việt Nam luôn phải hứng chịu những cuộc chiến
tranh khốc liệt trong suốt chiều dài lịch sử hàng
ngàn năm dựng nước và giữ nước. Để có nền hòa
bình, độc lập ngày nay, biết bao xương máu của
thế hệ người con các dân tộc trên đất nước Việt
Nam đã phải đổ xuống. Trải qua các cuộc chiến
tranh, tinh thần yêu nước, ý chí quật cường luôn
được thắp sáng trong mỗi người con đất Việt,
không kể vùng miền, thành phần dân tộc. Cũng
từ những cuộc chiến tranh đó, nhiều người con đã
trở thành những anh hùng, những tấm gương
sáng cho các thế hệ con em mai sau.
Trong thời kỳ lịch sử hiện đại, trải qua các
cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp, đế quốc
Mỹ xâm lược hay chiến tranh biên giới Tây Nam,
chiến tranh biên giới phía Bắc, nhiều tấm gương
anh dũng của các chiến sĩ trên khắp các mặt trận
đã được ghi nhận, trong số đó có nhiều chiến sĩ là
những người con của đồng bào các dân tộc thiểu
số. Trong mỗi cuộc chiến, ở các địa phương, lực
8
ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 3
lượng dân quân tự vệ là người dân tộc thiểu số đã
phát triển nhanh. Hàng vạn thanh niên các dân
tộc lên đường nhập ngũ. Các chiến sĩ dân tộc
thiểu số đã hòa vào dòng người “Xẻ dọc Trường
Sơn đi cứu nước”, đã vượt lên mất mát, hy sinh,
tham gia kháng chiến với nhiều hình thức phong
phú, cả trực tiếp và gián tiếp, cả ở vùng căn cứ,
vùng tự do cũng như vùng địch hậu; tham gia trừ
gian, bố phòng chiến đấu, chống càn, phục vụ hậu
cần cho chiến trận. Trong chiến đấu, đồng bào các
dân tộc thiểu số luôn ngoan cường, lập nhiều
chiến công oanh liệt. Nhiều người đã hiến dâng cả
xương máu vì độc lập, tự do và thống nhất Tổ
quốc. Cũng từ trong cuộc chiến đấu ấy, đã xuất
hiện nhiều tấm gương trung kiên, tiêu biểu, mãi
mãi là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam như các
anh hùng: La Văn Cầu, Bế Văn Đàn, Nông Văn
Dền... cùng hàng vạn liệt sĩ đã anh dũng hy sinh.
Nhiều chiến sĩ là người dân tộc thiểu số đã được
phong tặng danh hiệu “Anh hùng quân đội”,
“Dũng sĩ diệt Mỹ”.
Trong các cuộc chiến tranh vĩ đại chống lại
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, chiến tranh biên
giới Tây Nam, chiến tranh biên giới phía Bắc,
đồng bào các dân tộc thiểu số và vùng miền núi
luôn tự hào bởi những điều thật đặc biệt: Đội
Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân - tiền
thân của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng
LỜI NÓI ĐẦU
9
được thành lập giữa vùng miền núi Cao Bằng,
với các thành viên đa số là đồng bào các dân tộc
thiểu số. Anh hùng Lực lượng vũ trang đầu tiên
của Quân đội nhân dân Việt Nam là một người
dân tộc Tày - đồng chí La Văn Cầu. Chiến thắng
Điện Biên Phủ - chiến thắng quan trọng nhất và
là chiến thắng cuối cùng quyết định đánh bại
thực dân Pháp đã diễn ra ở vùng miền núi.
Chiến thắng Buôn Ma Thuột năm 1975 - chiến
thắng đầu tiên nhưng tạo điều kiện để Đảng ta
quyết định mở chiến dịch Hồ Chí Minh giải
phóng miền Nam cũng xuất phát ở vùng đồng
bào các dân tộc Tây Nguyên. Những minh chứng
đó khẳng định: công lao và cống hiến của quân
dân đồng bào dân tộc thiểu số và địa bàn vùng
dân tộc miền núi - căn cứ địa cách mạng kháng
chiến của dân tộc đã đóng góp vô cùng to lớn vào
cuộc chiến đấu chung; là sự chia sẻ, gánh vác
trách nhiệm chung và đã góp phần vào thắng lợi
vẻ vang trước thử thách sống còn của đất nước
Việt Nam anh hùng.
Giờ đây, sau hơn 40 năm miền Nam giải phóng,
thống nhất đất nước, đồng bào các dân tộc thiểu số
đang chung tay cùng với đồng bào cả nước trong
công cuộc xây dựng đất nước trên mọi phương
diện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội vì mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
10
ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 3
Bộ sách Anh hùng người dân tộc thiểu số
gồm 3 tập sẽ đem đến cho bạn đọc những thông
tin cụ thể về những người con ưu tú đại diện cho
tinh thần, ý chí chiến đấu bảo vệ và xây dựng quê
hương, đất nước của đồng bào các dân tộc thiểu
số. Biên soạn bộ sách này, chúng tôi hy vọng sẽ
đem đến cho bạn đọc những hiểu biết nhất định
về thân thế cũng như thành tích của các anh
hùng người dân tộc thiểu số. Qua đó, sẽ giúp cho
bạn đọc, nhất là thế hệ trẻ thêm yêu Tổ quốc,
sống và cống hiến hết mình cho sự nghiệp phồn
vinh của đất nước.
Trong bộ sách này, chúng tôi sắp xếp tên các
anh hùng dân tộc thiểu số theo vần A, B, C,... để
tiện cho việc tra cứu thông tin của bạn đọc.
Mặc dù chúng tôi đã có nhiều cố gắng trong
thu thập các nguồn tư liệu, nhưng không thể tránh
khỏi những thiếu sót. Ban biên soạn mong nhận
được những ý kiến đóng góp quý báu của bạn đọc
để bộ sách được hoàn thiện và đầy đủ hơn trong
lần xuất bản sau.
Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!
BAN BIÊN SOẠN
11
VÀNG LÝ TẢ
Anh hùng Vàng Lý Tả sinh năm 1926, là
người dân tộc Mông, quê ở xã Kim Bon, huyện
Phù Yên, tỉnh Sơn La. Khi hy sinh, anh là liên lạc
viên của huyện.
Năm 1947, dưới sự lãnh đạo của tổ chức đảng,
Vàng Lý Tả đã tích cực hoạt động cùng với cán bộ
kháng chiến. Suốt 5 năm hoạt động (1947 - 1951),
Vàng Lý Tả đã vận động các gia đình nuôi giấu
cán bộ và trở thành cơ sở cách mạng.
Trong thời gian làm liên lạc, chạy công văn,
thư từ bí mật từ huyện đến xã, Vàng Lý Tả luôn
được cán bộ tin cậy, không bao giờ để mất mát,
nhầm lẫn tài liệu. Không chỉ làm liên lạc, anh còn
kết hợp đi thu thập tin tức hoạt động của địch về
báo cáo cho cơ sở, vì vậy cơ sở hoạt động có hiệu
quả, an toàn.
Tháng 8-1951, do bị chỉ điểm, Vàng Lý Tả bị
địch bắt. Chúng tra tấn anh cực kỳ dã man (dội
nước sôi vào đầu, tẩm dầu vào tay đốt, nhúng tay
vào axít...) nhưng Vàng Lý Tả không hề hé răng
12
ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 3
khai báo, quyết bảo vệ cách mạng, bảo vệ nhân
dân. Không khuất phục được, giặc đem anh đi xử
bắn. Vàng Lý Tả đã anh dũng hy sinh.
Ngày 11-6-1999, Vàng Lý Tả được Nhà nước
truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ
trang nhân dân1.
_____________
1. Xem Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội đồng Thi
đua - Khen thưởng Trung ương: Chân dung anh hùng
thời đại Hồ Chí Minh, Nxb. Lao động, Nxb. Quân đội
nhân dân, Hà Nội, 2000, t.I, tr.240.
13
LỘC VIỄN TÀI
Anh hùng liệt sĩ Lộc Viễn Tài sinh năm 1940,
là người dân tộc Tày, quê ở xã Vĩ Thượng, huyện
Bắc Quang, tỉnh Hà Giang, công tác tại Đồn 155,
Công an nhân dân vũ trang Hà Tuyên, giữ chức
vụ Đồn trưởng Đồn 155.
Khi cuộc chiến tranh biên giới nổ ra, Lộc Viễn
Tài đang công tác tại đồn Công an nhân dân vũ
trang biên phòng Lũng Làn (Đồn 155) tại vùng
biên giới thuộc hai xã Sơn Vĩ và Sìn Cái, huyện
Mèo Vạc, tỉnh Hà Tuyên.
Sáng ngày 17-2-1979, hai tiểu đoàn bộ binh
địch dồn dập bắn pháo cối dọn đường, theo đường
mốc 138 và 140 ồ ạt tấn công Đồn 155. Lộc Viễn
Tài chỉ huy mũi chính diện, trực tiếp bắn đại liên
vào đội hình địch. Phát hiện 3 tên chỉ huy của
địch, Lộc Viễn Tài đã lệnh cho cối bắn và tiêu diệt
chúng. Đơn vị bẻ gãy nhiều đợt tấn công của địch,
tiêu diệt và làm bị thương gần 100 tên, tạo điều
kiện cho hai mũi khác diệt, làm bị thương gần 100
tên nữa. Bị thiệt hại nặng, địch cho bộ binh lui ra
14
ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 3
để củng cố đội hình, đồng thời cho pháo bắn cấp
tập vào trận địa ta. Nhưng khi bộ binh địch lại
xông lên, chúng đã bị cán bộ, chiến sĩ Đồn biên
phòng 155 đánh bật ra.
Ngày 5-3-1979, địch tập trung lực lượng
quyết chiếm Đồn 155 và cao điểm 1379 của ta.
Chúng cho pháo bắn trước, sau dùng bộ binh chia
thành nhiều mũi ồ ạt tấn công, nhưng bị quân ta
chống trả quyết liệt và đánh bật ra. Địch buộc
phải tăng cường lực lượng. Lợi dụng thời tiết
nhiều sương mù, Lộc Viễn Tài tổ chức lực lượng
phục kích, dồn địch vào trận địa đã được bố trí
hầm chông, bãi mìn gài sẵn, tiêu diệt nhiều tên
địch, buộc chúng phải rút quân để củng cố đội
hình. Trong trận chiến chống lại đợt tấn công tiếp
theo, Lộc Viễn Tài đã chỉ huy một tổ chặn đánh từ
xa, chia cắt đội hình địch ra từng mảng để dễ tiêu
diệt. Nhưng quân địch quá đông, đạn sắp hết, anh
lệnh cho hai chiến sĩ rút lui, còn mình dùng
những viên đạn cuối cùng ghìm chân địch, bảo vệ
đồng đội. Trong tay còn hai quả lựu đạn, Lộc Viễn
Tài chờ địch đến gần, giật nụ xòe, ném vào đội
hình địch, tiêu diệt và làm bị thương gần chục
tên, còn anh đã anh dũng hy sinh. Trong các trận
chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc riêng anh đã
diệt và làm bị thương 91 tên.
Khi hy sinh, Lộc Viễn Tài là đảng viên Đảng
Cộng sản Việt Nam, mang quân hàm Thượng úy.
LỘC VIỄN TÀI
15
Tên anh cùng 16 cán bộ, chiến sĩ Đồn 155 hy sinh
trong những năm bảo vệ biên giới đã được khắc
trên bia đá đặt gần đồn biên phòng Lũng Làn để
người dân đời đời tưởng nhớ công ơn1.
Lộc Viễn Tài được truy tặng Huân chương
Quân công hạng Ba. Ngày 19-12-1979, Lộc Viễn
Tài được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng
Lực lượng vũ trang nhân dân.
_____________
1. Xem http://thanhnien.vn/thoi-su/bien-cuong-noianh-nga-xuong-ky-2-noi-nui-da-khac-ten-436609.html
16
THANH MINH TÁM
Anh hùng Thanh Minh Tám (A Núk) sinh
năm 1935, là người dân tộc Hrê, quê ở xã Hiếu,
huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum. Khi được tuyên
dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, Trung đội
trưởng, Đại đội phó đặc công, Khu 9 Gia Lai.
Mới 15 tuổi, Thanh Minh Tám đi theo cách
mạng, ba năm liền làm liên lạc cho huyện đội,
anh không quản ngại vất vả, khó khăn, liên tục
chuyển công văn, chỉ thị của huyện xuống cơ sở
một cách an toàn.
Tháng 9-1953, Thanh Minh Tám vào bộ đội
huyện. Năm 1954 được tập kết ra Bắc, đi học đặc
công đến tháng 8-1960, anh trở về quê hương
tham gia chiến đấu ở đại đội đặc công, làm Tiểu
đội phó.
Trong 6 năm, 1960-1966, Thanh Minh Tám đã
đánh và chỉ huy đơn vị chiến đấu tại chiến trường
Gia Lai, trưởng thành từ tiểu đội lên đại đội phó.
Anh đã chỉ huy đơn vị đánh 16 trận lớn, nhỏ, cùng
đơn vị diệt 3 trung đội bảo an, 2 tiểu đội dân vệ, 1
đoàn bình định và 42 lính Mỹ. Đặc biệt trong trận
THANH MINH TÁM
17
đánh vào sân bay Plâyku, Thanh Minh Tám đã
chỉ huy đơn vị phá 42 máy bay, diệt 70 lính Mỹ.
Riêng anh diệt 22 tên, thu 13 súng các loại, 3 máy
bay thông tin PRC10, 1 thùng đạn, đánh sập 1
nhà, diệt tên đại tá Mỹ chỉ huy sân bay, phá hủy 8
máy bay1.
Anh đã được tặng Huân chương Chiến công
hạng Nhất, 7 bằng khen và giấy khen Dũng sĩ
diệt Mỹ cấp ưu tú, Dũng sĩ diệt máy bay.
Ngày 17-9-1967, Thanh Minh Tám được Ủy
ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng
miền Nam Việt Nam tặng thưởng danh hiệu Anh
hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
_____________
1. Xem “24 đơn vị anh hùng và 46 cá nhân Anh
hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam vừa được
phong tặng”, Báo Quân đội nhân dân, số 2291, ngày
13-10-1967, tr.3.
18
PI NĂNG TẮC
Anh hùng Pi Năng Tắc sinh năm 1910, là
người dân tộc Raglai, quê ở xã Phước Thành (nay
thuộc huyện Bác Ái), huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh
Thuận. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí
là đảng viên, Chính trị viên phó Huyện đội.
Anh tham gia cách mạng vào năm 1946. Trải
qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống
Mỹ, Pi Năng Tắc luôn chiến đấu hết mình, hoàn
thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Năm
1956, khi Mỹ - Diệm tiến hành dồn dân hai thôn
của xã Phước Thành về khu tập trung. Năm 1958,
Pi Năng Tắc trốn khỏi làng lên ở suốt sáu tháng
trong rừng, luồn qua hoang rậm, trèo qua các
dãy núi đá để liên lạc với các đồng chí đang hoạt
động cách mạng. Ngày 30 Tết năm Kỷ Hợi 1959,
Pi Năng Tắc cùng du kích quân và đồng bào
thiểu số đã tập hợp lực lượng lên đến 5.000
người, dùng vũ khí thô sơ đánh phá, đốt cháy các
khu tập trung của địch. Anh đã tổ chức cho bà
con kéo về làng cũ, lại cấy cày, chăn nuôi và
PI NĂNG TẮC
19
huấn luyện các kỹ thuật chiến đấu để sẵn sàng
chống lại các trận càn điên cuồng của giặc “cú vọ
xâm lăng”.
Sau đợt này, địch nghi ngờ, theo dõi gắt gao
nên tổ chức buộc phải điều Pi Năng Tắc về hoạt
động ở xã Phước Bình. Ở đây, cơ sở ta yếu, lại bị
tề ngụy đàn áp, kích động mâu thuẫn giữa các
dân tộc, tách dân tộc Churu rời xuống khu tập
trung, còn dân tộc Raglai ở trên núi... Trong
hoàn cảnh ấy, Pi Năng Tắc đã kiên trì tuyên
truyền, thuyết phục nhân dân, khi thì lên núi ở
với người Raglai, khi thì xuống khu tập trung ở
với người Churu, vạch rõ âm mưu, thủ đoạn của
địch, phân giải các mối bất hòa. Nhờ những nỗ
lực của Pi Năng Tắc mà đến tháng 6-1960 đã có
hơn 280 đồng bào1 bỏ khu “tập trung Tầm Ngân”
trở về làng cũ làm ăn. Sau một thời gian, bà con
hai dân tộc đã đoàn kết, họ cùng nhau tổ chức lễ
uống rượu ăn thề giúp nhau sản xuất và đấu
tranh chống địch. Ngoài ra, Pi Năng Tắc còn xây
dựng được hai cơ sở bí mật hoạt động trong xã và
vận động được ba tề điệp bỏ hàng ngũ địch về với
cách mạng. Thấy quần chúng đã giác ngộ, anh
cùng nhân dân phá khu tập trung, đưa đồng bào
_____________
1. Xem “Anh hùng quân đội Pi Năng Tắc - 20 năm
trời kiên trì sản xuất và chiến đấu”, Báo Quân đội
nhân dân, số 1524, ngày 25-5-1965, tr.3.
20
ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 3
lên núi, thành lập đội du kích, vót chông, gài mìn,
đào hầm, rào làng ngăn chặn và đánh địch.
Trong chiến đấu, Pi Năng Tắc đã có rất
nhiều sáng kiến đánh giặc, trong đó phải kể đến
bẫy đá. Anh cho đào vách núi, dựng các cây gỗ
lớn làm giàn, xếp đá lên trên, có lẫy tre gỗ, khi
giật lẫy là cả núi đá hộc lăn xuống giết giặc. Anh
cho làm các bẫy nỏ, các mũi tên ẩn trong các tán
lá, hễ có “động” là lập tức các mũi tên tre có tẩm
thuốc độc bắn ra như mưa. Trong các tán rừng,
còn có hệ thống tre nứa vót nhọn liên kết với
nhau thành bè mảng buộc thêm đá hộc thật
nặng, khi giật lẫy là chúng bay ra, cắm phập cả
một giàn, một phên vào kẻ thù. Có khi một giàn
chông xiên cả chục tên giặc một “nhát”. Trên mặt
đất, họ đào sẵn các hố sâu, rải lá mục và cây
rừng ngụy trang lên trên, khi giặc dẫm lên lá
mục, tên từ lòng đất bay lên như mưa, tên từ
trên tán rừng dội xuống vun vút, đặc biệt kinh
hoàng là đá hộc to bằng cả gian nhà lăn như trời
long đất lở... Liên tiếp các trận càn của giặc bị
nghĩa quân Pi Năng Tắc bẻ gãy.
Tháng 5-1960, địch càn lên núi bị du kích
đánh, diệt và làm bị thương 20 tên buộc chúng
phải rút chạy. Trận chống càn năm 1962, một tiểu
đoàn lính ngụy, một đại đội lính bảo an, rồi cả
lính Mỹ cùng tổ chức trận càn lớn lên Phước Bình,
quyết tiêu diệt “đám giặc cỏ” lẩn lút trong rừng
PI NĂNG TẮC
21
sâu. Từ trên núi cao, 3 tổ du kích đã được Pi Năng
Tắc bố trí lừa, dụ địch vào ổ phục kích, 17 bẫy đá,
nhiều mang cung, hầm chông và hàng vạn mũi
tên tẩm thuốc độc đã ra sức tiêu diệt địch. Hơn
100 tên chết thảm, ta thu về chiến lợi phẩm là
5.000 viên đạn, 27 khẩu súng, nhiều quân trang
quân dụng khác.
Tháng 5-1961, giặc lại càn lần thứ hai với 350
tên, có máy bay, đại bác yểm hộ. Pi Năng Tắc
cùng đồng đội chờ cho địch lọt vào ổ phục kích rồi
dùng cung tên, bẫy đá tiêu diệt chúng. Cuộc chiến
đấu diễn ra suốt 3 tiếng đồng hồ từ 13 giờ đến 16
giờ chiều. Trong trận chống càn này, du kích đã
diệt và làm bị thương 80 tên1.
Ngoài ra, Pi Năng Tắc còn có nhiều thành tích
trong việc vận động phong trào sản xuất tự túc,
xây dựng cuộc sống mới.
Ngày 5-5-1965, Pi Năng Tắc được Nhà nước
tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng
hạng Nhì và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ
trang nhân dân.
_____________
1. Xem “Anh hùng quân đội Pi Năng Tắc - 20 năm
trời kiên trì sản xuất và chiến đấu”, Báo Quân đội
nhân dân, số 1524, Tlđd, tr.3.
22
HOÀNG VĂN TẤM
Anh hùng liệt sĩ Hoàng Văn Tấm là người dân
tộc Thái, sinh năm 1958 tại xã Lay Nưa, huyện
Mường Lay, tỉnh Lai Châu (nay là xã Lay Nưa,
thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên).
Tháng 10-1975, Hoàng Văn Tấm tốt nghiệp
chương trình nghiệp vụ công an, được điều về
công tác tại Phòng Cảnh sát bảo vệ, Ty Công an
Lai Châu và được đề bạt làm Tiểu đội trưởng.
Tháng 2-1979, chiến tranh biên giới phía
Bắc xảy ra. Lúc này, với cương vị là Trung đội
phó, Hoàng Văn Tấm đã cùng các đồng đội trong
đơn vị vận động quần chúng chuẩn bị tinh thần
sẵn sàng sơ tán về tuyến sau. Trong trận chiến
đấu bảo vệ chốt C5, trước sự tấn công quyết liệt
của địch, Hoàng Văn Tấm đã cùng đồng đội
chặn đứng nhiều đợt tấn công của chúng, riêng
đồng chí đã tiêu diệt trên 10 tên địch và làm bị
thương nhiều tên khác. Trong trận chiến này,
Hoàng Văn Tấm và các đồng đội đã giữ vững
được chốt, nhưng do lực lượng quá chênh lệch,
HOÀNG VĂN TẤM
23
đồng chí đã anh dũng hy sinh ngay tại chiến
hào ngày 6-3-1979.
Ngày 13-8-1980, Hoàng Văn Tấm được Nhà
nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ
trang nhân dân. Khi hy sinh đồng chí là Trung
đội phó thuộc Tiểu đoàn Cảnh sát bảo vệ cơ động
Công an tỉnh Lai Châu.
24
NGUYỄN VĂN TẤN
Anh hùng Nguyễn Văn Tấn là người dân tộc
Tày, sinh năm 1942, tại xã Hà Vị, huyện Bạch
Thông, tỉnh Bắc Kạn. Khi được tuyên dương Anh
hùng, đồng chí là đảng viên, Chuẩn úy, Trung đội
trưởng sửa chữa xe tăng thuộc Đại đội 201, Tổng
cục Hậu cần.
Từ năm 1967 đến năm 1973, Nguyễn Văn Tấn
làm nhiệm vụ sửa chữa xe tăng, xe xích cho các
đơn vị chiến đấu ở Khu 4, Quảng Trị, đường 9 Nam Lào. Mặc dù địch đánh phá ác liệt, anh vẫn
thường xuyên theo sát các đơn vị chiến đấu để sửa
chữa xe. Bất kỳ lúc nào gặp xe hỏng mà cần sửa
gấp là anh làm ngay. Hàng chục lần đang sửa thì
máy bay địch đến bắn phá, anh vẫn bình tĩnh
thực hiện nhiệm vụ; ba lần bom nổ, bị đất đá vùi
lấp, ngất đi, khi tỉnh dậy anh lại tiếp tục công
việc. Anh chỉ huy trung đội sửa chữa được 150 lần
chiếc xe tăng, xe xích. Riêng anh sửa 60 lần chiếc
xe, phục vụ kịp thời cho chiến đấu.
Mặc dù là thợ sửa chữa điện xe nhưng do chịu
khó học hỏi, anh đã sửa chữa giỏi nhiều bộ phận
khác của xe tăng, xe xích (cả của ta và của địch)
NGUYỄN VĂN TẤN
25
và lái thành thạo các loại xe. Đặc biệt, Nguyễn
Văn Tấn luôn tích cực phát huy sáng kiến, cải
tiến kỹ thuật, trong đó có rất nhiều sáng kiến đã
được phổ biến trong các đơn vị nhờ đó mà các đơn
vị sửa chữa xe tăng ngày càng đạt được hiệu quả
cao trong công tác, như: nghiên cứu cải tiến ly hợp
của xe D-350 thay thế cho xe PT-C bảo đảm tốt;
cải tiến rà nấm xe AT-C trước đây hai người làm
mất 36 giờ, nay một người làm trong 20 giờ; trước
kia muốn kéo bánh tì xe AT-R thông thường phải
dùng búa đóng, nay anh làm thêm một bộ phận
tăng giảm xích, tạo thành một cái van tháo bánh
tì, đưa năng suất tăng gấp 3 lần; trước đây một
cái phớt dạ bánh tì hỏng sẽ không có phớt thay
thế, xe không hoạt động được thì nay anh có sáng
kiến dùng xăm, lốp ô tô cắt làm phớt, giải quyết
được khó khăn cho đơn vị,...
Anh đã 214 lần kéo giúp xe của đơn vị bị đổ
dọc đường, đào bới hầm bị bom đánh sập cứu
được 5 đồng đội, giúp đỡ nâng cao tay nghề cho 24
thợ sửa chữa.
Nhờ những thành tích đã đạt được trong công
tác, Nguyễn Văn Tấn được tặng thưởng 2 Huân
chương Chiến công hạng Ba, 4 lần là Chiến sĩ
quyết thắng, 6 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ
thi đua, 24 bằng khen, giấy khen.
Ngày 31-12-1973, Nguyễn Văn Tấn được Nhà
nước tặng thưởng danh hiệu Anh hùng Lực lượng
vũ trang nhân dân.
26
TRIỆU XUÂN TÂNG
Anh hùng Triệu Xuân Tâng (tức Triệu Xuân
Công) sinh năm 1946, là người dân tộc Nùng, quê
ở xã Quốc Dân, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao
Bằng. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí
là đảng viên, Thượng sĩ, Trung đội trưởng bộ binh
thuộc đoàn 28, Quân khu Tây Bắc.
Triệu Xuân Tâng làm nhiệm vụ giúp Lào
xây dựng cơ sở cách mạng ở tỉnh Luông Pha
Băng từ năm 1967 đến năm 1973. Anh kiên trì
bám đất, bám dân, tuyên truyền vận động quần
chúng tham gia phong trào cách mạng. Trong
chiến đấu, Triệu Xuân Tâng thể hiện tinh thần
tiến công tiêu diệt địch cao, chỉ huy trung đội
tiêu diệt trên 100 tên địch, bản thân diệt 26 tên.
Tháng 2-1968, anh cùng một chiến sĩ đi xây
dựng cơ sở ở bắc Huôi Nhang thì bị lộ, địch bao
vây, đánh úp. Đồng đội hy sinh, một mình anh
kiên cường đánh trả địch, diệt 8 tên. Khi rút,
Triệu Xuân Tâng còn cõng đồng đội về mai táng
chu đáo.
TRIỆU XUÂNG TÂNG
27
Trận đánh Phu Đăm ngày 14-4-1972, anh chỉ
huy tổ mũi nhọn đánh thọc vào giữa vị trí địch,
diệt sở chỉ huy, tạo điều kiện thuận lợi cho đồng
đội tiến lên diệt đại đội của địch. Trong trận này,
riêng anh diệt được 20 tên địch.
Không chỉ hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu
mà Triệu Xuân Tâng còn làm tốt nhiệm vụ xây
dựng cơ sở cách mạng. Anh đã cùng sống, cùng lao
động với nhân dân Lào và kiên trì học nói, đọc và
viết thành thạo ngôn ngữ bản địa, nhờ vậy mà
việc tuyên truyền giáo dục quần chúng nhân dân
có kết quả rất tốt. Triệu Xuân Tâng đã cùng các
cán bộ địa phương xây dựng được cơ sở cách mạng
ở 10 xã, bồi dưỡng được 7 cán bộ trong huyện.
Với những cống hiến của mình anh đã được
tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công hạng
Nhì, 1 Huân chương Chiến công hạng Ba, 6 bằng
khen, giấy khen.
Ngày 31-12-1973, Triệu Xuân Tâng được Chủ
tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng
thưởng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang
nhân dân.
28
TÀO VĂN TEM
Anh hùng Tào Văn Tem sinh năm 1956, là
người dân tộc Thái, quê ở xã Chà Tở, huyện Mường
Chà, tỉnh Điện Biên. Khi được tuyên dương Anh
hùng, anh là đoàn viên Đoàn Thanh niên Cộng sản
Hồ Chí Minh, Thượng sĩ, trinh sát viên, Đồn 1
Công an nhân dân vũ trang tỉnh Lai Châu.
Công tác trên địa bàn có nhiều đồng bào dân
tộc thiểu số sinh sống, Tào Văn Tem đã mày mò
và tự học tiếng của các dân tộc: Mông, Hà Nhì,
Dao. Nhờ vậy anh đã giành được sự tin yêu của
đồng bào, xây dựng được nhiều cơ sở vững chắc ở
địa bàn công tác.
Khi chiến tranh biên giới phía Bắc xảy ra,
được cấp trên giao nhiệm vụ chỉ huy một tổ
chiến đấu chặn đánh địch, Tào Văn Tem vừa
mưu trí dũng cảm chỉ huy, động viên đồng đội
chiến đấu vừa trực tiếp tham chiến. Anh cùng
đồng đội đã đẩy lùi đợt tấn công của địch và tiêu
diệt nhiều tên. Riêng anh diệt 10 tên, cùng toàn
tổ giữ vững trận địa, hoàn thành xuất sắc nhiệm
vụ được giao.
TÀO VĂN TEM
29
Chấp hành mệnh lệnh của cấp trên, Tào Văn
Tem chuyển hướng hoạt động trong địa bàn sau
lưng địch. Tào Văn Tem vừa chủ động nắm bắt
tình hình hoạt động của địch, vừa nâng cao tinh
thần cảnh giác, phòng ngừa các âm mưu, thủ
đoạn phá hoại mới của chúng. Dựa vào các cơ sở
đã xây dựng trước đây, Tào Văn Tem đã bắt và xử
lý nhiều tên phản động, chỉ điểm, thám báo của
địch, góp phần đập tan âm mưu nhen nhóm tổ
chức phản động, gây bạo loạn cướp chính quyền
của địch, bảo vệ tính mạng và tài sản nhân dân.
Dù hoạt động ở sau lưng địch, Tào Văn Tem vẫn
kịp thời tổ chức, củng cố đội ngũ dân quân, cùng
dân quân bám trụ chiến đấu bảo vệ địa bàn trước
các hành động phá hoại của quân địch1.
Với nhiều thành tích đạt được trong công tác
và chiến đấu, Tào Văn Tem đã được tặng thưởng
1 Huân chương Chiến công hạng Nhì. Ngày 1912-1979, Tào Văn Tem được Nhà nước phong
tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang
nhân dân.
_____________
1. Xem http://www.vnmilitaryhistory.net/index.
php?topic=185.30
30
HÀ VĂN THANH
Anh hùng Hà Văn Thanh sinh năm 1948, là
người dân tộc Thái, quê ở xã Lương Sơn, huyện
Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Khi được tuyên
dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, Thượng
sĩ, Trung đội phó Đại đội 11 ô tô vận tải, Tiểu
đoàn 51, Binh trạm 34, Đoàn 559.
Phục vụ trên một tuyến đường địch đánh phá
rất ác liệt, anh luôn nêu cao tinh thần trách
nhiệm, tận tụy, dũng cảm, mưu trí, dẫn đầu đơn vị
về vượt cung tăng chuyến đưa hàng tới đích
nhanh, đủ và tốt. Nhiều lần anh không quản nguy
hiểm, bật đèn sáng chạy rẽ sang hướng khác để
thu hút máy bay địch, cứu được cả đoàn xe của đơn
vị bạn1.
Từ năm 1969 đến năm 1972, Hà Văn Thanh
lái xe vận chuyển tuyến đường 559. Trong quá
_____________
1. Xem “75 đơn vị anh hùng và 21 anh hùng lực
lượng vũ trang nhân dân Việt Nam vừa được tuyên
dương”, Báo Quân đội nhân dân, số 4422, ngày 6-9-1973,
tr.4.
HÀ VĂN THANH
31
trình làm nhiệm vụ, mặc dù hàng chục lần máy
bay địch đánh phá khiến nhiều lần xe hỏng giữa
đường, nhiều ngày mưa lũ, đường lầy lội, khó đi,
nhưng anh vẫn quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ,
luôn dẫn đầu đơn vị về vượt cung, tăng chuyến
đưa hàng tới đích an toàn, đủ số lượng. Hà Văn
Thanh chạy 233 tuyến, có 146 chuyến vượt cung
độ từ 2 đêm/chuyến xuống 1 đêm/chuyến; chuyển
được 1.066 tấn hàng; khi về chuyển được 755
thương binh về phía sau an toàn; tiết kiệm được
1.500 lít xăng, thu nhặt được 3 tấn phụ tùng
máy móc ở các xe bị địch đánh hỏng và 2.340 vỏ
phuy xăng,...
Hà Văn Thanh đã nhiều lần dũng cảm cứu
người, cứu xe, cứu hàng, nêu gương tốt cho toàn
đơn vị học tập. Có lần đoàn xe của đơn vị vừa tới
trọng điểm thì máy bay địch ném bom. Bom nổ,
anh vẫn cố giữ thăng bằng, vượt ra khỏi bãi bom,
nhanh chóng sửa cả bốn lốp xe bị thủng, tiếp tục
đưa hàng tới đích an toàn. Có hai lần thấy đoàn
xe bị máy bay C130 đánh, Hà Văn Thanh mưu trí
bật đèn xe chạy sang hướng khác thu hút hỏa lực
địch, nhờ đó cả đoàn 12 chiếc chở đầy hàng được
an toàn. Có lần đang lái xe trên đường, gặp xe
bạn bị máy bay địch bắn cháy, anh đã dũng cảm
lao vào dập tắt lửa và nhanh chóng lái chiếc xe
đến nơi an toàn. Sau khi băng bó cho đồng đội chu
đáo, Hà Văn Thanh tiếp tục lái xe của mình đến
32
ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 3
đích đúng thời gian quy định. Anh đã kéo và sửa
chữa xe cho bạn 80 lần, bồi dưỡng giúp đỡ 8 đồng
chí trở thành lái chính.
Trong suốt những năm tháng trên chiến
trường, Hà Văn Thanh đã lái 38.221km an toàn.
Đồng chí được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến
công hạng Ba, 2 lần là Chiến sĩ quyết thắng, 5 lần
là Chiến sĩ thi đua, 42 bằng khen.
Ngày 3-9-1973, Hà Văn Thanh được Nhà
nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng
vũ trang nhân dân.
33
BẾ VĂN THÀNH
Anh hùng Bế Văn Thành sinh năm 1946, là
người dân tộc Tày, quê ở xã Hồng Quang, huyện
Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng. Khi hy sinh, đồng
chí là đảng viên, Thượng sĩ, Trung đội phó thuộc
Đại đội 3 bộ binh, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 48, Sư
đoàn 320, Quân đoàn 3.
Hoạt động trên chiến trường Trị Thiên và Tây
Nguyên từ năm 1966 đến năm 1974, Bế Văn Thành
khi làm chiến sĩ vận tải, lúc trực tiếp chiến đấu,
nhiệm vụ nào cũng hoàn thành xuất sắc.
Trong công tác vận tải, Bế Văn Thành đã vượt
qua nhiều khó khăn, nguy hiểm, chuyển được 60
tấn hàng ra mặt trận, bảo đảm số lượng, chất
lượng, đúng thời gian quy định. Trong chiến đấu,
anh luôn phát huy cao tinh thần xung phong,
gương mẫu, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Trong trận
đánh ngày 3-4-1973, địch tuy đông lại có xe tăng,
pháo binh, máy bay yểm trợ, phản kích vào trận
địa chốt của ta nhưng Bế Văn Thành vẫn động
viên anh em quyết tâm chiến đấu. Hết đạn, anh
34
ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 3
lấy súng cối địch để diệt địch, giữ vững chốt. Trận
này, anh diệt 10 tên, bắt sống 3 tên, thu 6 súng.
Năm 1974, trong trận tiêu diệt căn cứ làng
Siêu, Bế Văn Thành chỉ huy một bộ phận nhanh
chóng đánh chiếm lô cốt đầu cầu tạo điều kiện cho
toàn đơn vị xông lên diệt địch trong căn cứ. Sau
khi đã diệt xe bọc thép và một số hỏa điểm ở nơi
cửa mở, anh dẫn đầu đơn vị xông lên chiếm điểm
cao, chỉ huy đồng đội diệt từng mục tiêu. Trận
đánh sắp kết thúc thì anh bị thương nặng. Trước
lúc hy sinh, Bế Văn Thành còn trao súng và động
viên đồng đội tiếp tục truy quét địch.
Anh được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến
công giải phóng hạng Nhất, 1 Huân chương Chiến
đấu giải phóng hạng Ba, 4 lần được tặng danh
hiệu Dũng sĩ, 8 bằng khen.
Ngày 6-11-1978, Bế Văn Thành được Nhà
nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ
trang nhân dân.
35
GIÀNG A THÀO
Anh hùng Giàng A Thào sinh năm 1935, là
người dân tộc Dao, quê ở xã Sùng Đô, huyện Văn
Chấn, tỉnh Yên Bái. Khi được tuyên dương Anh
hùng, đồng chí là đảng viên, cán bộ xã Sùng Đô,
huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái1.
Giàng A Thào là một đảng viên người dân tộc
Dao, một cán bộ năng nổ của xã Sùng Đô, luôn
bền bỉ đến từng gia đình đồng bào các dân tộc vận
động xây dựng và củng cố hợp tác xã. Giàng A
Thào đã cùng với tập thể xã viên cày bừa, làm
ruộng bậc thang, phát triển chăn nuôi, mở rộng
diện tích trồng lúa. Anh còn tích cực vận động bà
con phát triển cây chè và một số loại cây công
nghiệp khác. Nhờ vậy, xã viên không những tự
túc được lương thực mà còn có đủ lương thực bán
cho Nhà nước, đời sống vật chất và văn hóa của xã
_____________
1. Xem Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Hội
đồng Thi đua - Khe...
 





