Bài hát 'Trang sách em yêu'

Tài nguyên thông tin thư viện

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Video đọc sách trên thư viện Mây - "Ngọt ngất Ngọt ngây"

    Ảnh ngẫu nhiên

    7306335436304.flv Z7255893390500_a6fae421e396d91b7f499fc272fb2e7d.jpg Z7255894892750_4c9359296c180f4c0b32f09f68e188fd.jpg Z7255895517582_eecc75625a04b23a0b5a4bcbca0f0863.jpg Z7255895241468_7d20987c99d28a6386b0066af4a07184.jpg Z7255895366726_bdb25e8e81cf75577935b5d6888543b4.jpg Z7255877432160_6c0e1b91a4111145439f6efbbebad133.jpg Z7255874276373_93ea0cb9886773eeedf752ff69aa3a2b.jpg Kien_thuc_co_ban_TH__Toan_chuyen_dong.jpg Kien_thuc_co_ban_TH__Hinh_hoc.jpg Kien_thuc_co_ban_TH__Cac_dang_Toan_co_loi_van.jpg

    💕💕 NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 43 NĂM NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20/11/1982 - 20/11/2025 💕💕

    20-11 là ngày gì? Nguồn gốc, ý nghĩa của ngày Nhà giáo Việt Nam

    Anh hùng dân tộc thiểu số - Tập 3

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
    Ngày gửi: 16h:02' 07-02-2025
    Dung lượng: 3.0 MB
    Số lượt tải: 1
    Số lượt thích: 0 người
    HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO XUẤT BẢN
    Chủ tịch Hội đồng
    PGS.TS. PHẠM VĂN LINH
    Phó Chủ tịch Hội đồng
    PHẠM CHÍ THÀNH
    Thành viên
    TRẦN QUỐC DÂN
    TS. NGUYỄN ĐỨC TÀI
    TS. NGUYỄN AN TIÊM
    NGUYỄN VŨ THANH HẢO

    CÁC TÁC GIẢ
    NGUYỄN NGỌC THANH (Chủ biên)
    NGÔ THỊ CHANG
    PHAN THỊ HẰNG
    NGUYỄN LINH HƯƠNG
    LÊ THỊ KIM OANH
    NGUYỄN THANH TÙNG
    PHẠM HÀ XUYÊN

    5

    LỜI NHÀ XUẤT BẢN

    Thế kỷ XX, đất nước ta đã phải trải qua các cuộc
    kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm
    lược, chiến tranh biên giới Tây Nam, chiến tranh biên
    giới phía Bắc để bảo vệ Tổ quốc. Trong các cuộc chiến
    tranh ấy, đồng bào dân tộc thiểu số đã có những đóng
    góp vô cùng to lớn. Bất chấp hiểm nguy, đã hòa mình
    vào công cuộc kháng chiến kiến quốc dưới sự lãnh đạo
    của Đảng. Hàng vạn thanh niên các dân tộc thiểu số
    đã lên đường nhập ngũ, tham gia lực lượng dân quân
    tự vệ. Trong các bản làng, bà con nuôi giấu và bảo vệ
    cán bộ, bộ đội; tham gia tiễu phỉ, trừ gian, bố phòng
    chiến đấu, chống càn, phục vụ hậu cần cho chiến trận.
    Từ đó, đã xuất hiện nhiều tấm gương trung kiên, tiêu
    biểu sẵn sàng xả thân vì lý tưởng cách mạng, mãi mãi
    là niềm tự hào của dân tộc. Nhiều chiến sĩ là người dân
    tộc thiểu số đã được phong tặng, truy tặng danh hiệu
    cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
    Trong lao động, sản xuất cũng xuất hiện những
    Anh hùng Lao động ở các nhà máy, xí nghiệp, hợp tác
    xã, công trường nông - lâm nghiệp,... là con em của
    đồng bào dân tộc thiểu số. Họ tích cực tăng gia sản

    6

    ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 3

    xuất, cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động,
    cải thiện cuộc sống trên quê hương, đóng góp nghĩa vụ
    với nhà nước, cổ vũ, khích lệ bà con dân tộc miền núi
    cùng nhau đoàn kết vươn lên.
    Trân trọng công lao, đóng góp của các Anh hùng
    Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động đối với sự
    nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, Nhà xuất bản
    Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản bộ sách Anh
    hùng người dân tộc thiểu số gồm 3 tập, do
    PGS.TS. Nguyễn Ngọc Thanh - Trung tâm Thông tin
    văn hóa các dân tộc làm chủ biên.
    Nội dung cuốn sách không chỉ là sự tri ân đối với
    các anh hùng dân tộc thiểu số, mà còn có ý nghĩa giáo
    dục truyền thống yêu nước, đấu tranh cách mạng và
    lao động sản xuất đối với thế hệ trẻ ngày nay.
    Để bạn đọc thuận tiện theo dõi, tên các nhân vật
    được sắp xếp theo vần chữ cái tiếng Việt. Tập 1 gồm
    tên các nhân vật từ chữ cái A đến chữ cái K; tập 2 gồm
    tên các nhân vật từ chữ cái L đến chữ cái S; tập 3 gồm
    tên các nhân vật từ chữ cái T đến chữ cái Y.
    Xin giới thiệu bộ sách cùng bạn đọc.
    Tháng 7 năm 2016
    NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT

    7

    LỜI NÓI ĐẦU

    Là một đất nước có diện tích không lớn, song
    Việt Nam luôn phải hứng chịu những cuộc chiến
    tranh khốc liệt trong suốt chiều dài lịch sử hàng
    ngàn năm dựng nước và giữ nước. Để có nền hòa
    bình, độc lập ngày nay, biết bao xương máu của
    thế hệ người con các dân tộc trên đất nước Việt
    Nam đã phải đổ xuống. Trải qua các cuộc chiến
    tranh, tinh thần yêu nước, ý chí quật cường luôn
    được thắp sáng trong mỗi người con đất Việt,
    không kể vùng miền, thành phần dân tộc. Cũng
    từ những cuộc chiến tranh đó, nhiều người con đã
    trở thành những anh hùng, những tấm gương
    sáng cho các thế hệ con em mai sau.
    Trong thời kỳ lịch sử hiện đại, trải qua các
    cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp, đế quốc
    Mỹ xâm lược hay chiến tranh biên giới Tây Nam,
    chiến tranh biên giới phía Bắc, nhiều tấm gương
    anh dũng của các chiến sĩ trên khắp các mặt trận
    đã được ghi nhận, trong số đó có nhiều chiến sĩ là
    những người con của đồng bào các dân tộc thiểu
    số. Trong mỗi cuộc chiến, ở các địa phương, lực

    8

    ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 3

    lượng dân quân tự vệ là người dân tộc thiểu số đã
    phát triển nhanh. Hàng vạn thanh niên các dân
    tộc lên đường nhập ngũ. Các chiến sĩ dân tộc
    thiểu số đã hòa vào dòng người “Xẻ dọc Trường
    Sơn đi cứu nước”, đã vượt lên mất mát, hy sinh,
    tham gia kháng chiến với nhiều hình thức phong
    phú, cả trực tiếp và gián tiếp, cả ở vùng căn cứ,
    vùng tự do cũng như vùng địch hậu; tham gia trừ
    gian, bố phòng chiến đấu, chống càn, phục vụ hậu
    cần cho chiến trận. Trong chiến đấu, đồng bào các
    dân tộc thiểu số luôn ngoan cường, lập nhiều
    chiến công oanh liệt. Nhiều người đã hiến dâng cả
    xương máu vì độc lập, tự do và thống nhất Tổ
    quốc. Cũng từ trong cuộc chiến đấu ấy, đã xuất
    hiện nhiều tấm gương trung kiên, tiêu biểu, mãi
    mãi là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam như các
    anh hùng: La Văn Cầu, Bế Văn Đàn, Nông Văn
    Dền... cùng hàng vạn liệt sĩ đã anh dũng hy sinh.
    Nhiều chiến sĩ là người dân tộc thiểu số đã được
    phong tặng danh hiệu “Anh hùng quân đội”,
    “Dũng sĩ diệt Mỹ”.
    Trong các cuộc chiến tranh vĩ đại chống lại
    thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, chiến tranh biên
    giới Tây Nam, chiến tranh biên giới phía Bắc,
    đồng bào các dân tộc thiểu số và vùng miền núi
    luôn tự hào bởi những điều thật đặc biệt: Đội
    Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân - tiền
    thân của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng

    LỜI NÓI ĐẦU

    9

    được thành lập giữa vùng miền núi Cao Bằng,
    với các thành viên đa số là đồng bào các dân tộc
    thiểu số. Anh hùng Lực lượng vũ trang đầu tiên
    của Quân đội nhân dân Việt Nam là một người
    dân tộc Tày - đồng chí La Văn Cầu. Chiến thắng
    Điện Biên Phủ - chiến thắng quan trọng nhất và
    là chiến thắng cuối cùng quyết định đánh bại
    thực dân Pháp đã diễn ra ở vùng miền núi.
    Chiến thắng Buôn Ma Thuột năm 1975 - chiến
    thắng đầu tiên nhưng tạo điều kiện để Đảng ta
    quyết định mở chiến dịch Hồ Chí Minh giải
    phóng miền Nam cũng xuất phát ở vùng đồng
    bào các dân tộc Tây Nguyên. Những minh chứng
    đó khẳng định: công lao và cống hiến của quân
    dân đồng bào dân tộc thiểu số và địa bàn vùng
    dân tộc miền núi - căn cứ địa cách mạng kháng
    chiến của dân tộc đã đóng góp vô cùng to lớn vào
    cuộc chiến đấu chung; là sự chia sẻ, gánh vác
    trách nhiệm chung và đã góp phần vào thắng lợi
    vẻ vang trước thử thách sống còn của đất nước
    Việt Nam anh hùng.
    Giờ đây, sau hơn 40 năm miền Nam giải phóng,
    thống nhất đất nước, đồng bào các dân tộc thiểu số
    đang chung tay cùng với đồng bào cả nước trong
    công cuộc xây dựng đất nước trên mọi phương
    diện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội vì mục tiêu
    dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
    minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

    10

    ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 3

    Bộ sách Anh hùng người dân tộc thiểu số
    gồm 3 tập sẽ đem đến cho bạn đọc những thông
    tin cụ thể về những người con ưu tú đại diện cho
    tinh thần, ý chí chiến đấu bảo vệ và xây dựng quê
    hương, đất nước của đồng bào các dân tộc thiểu
    số. Biên soạn bộ sách này, chúng tôi hy vọng sẽ
    đem đến cho bạn đọc những hiểu biết nhất định
    về thân thế cũng như thành tích của các anh
    hùng người dân tộc thiểu số. Qua đó, sẽ giúp cho
    bạn đọc, nhất là thế hệ trẻ thêm yêu Tổ quốc,
    sống và cống hiến hết mình cho sự nghiệp phồn
    vinh của đất nước.
    Trong bộ sách này, chúng tôi sắp xếp tên các
    anh hùng dân tộc thiểu số theo vần A, B, C,... để
    tiện cho việc tra cứu thông tin của bạn đọc.
    Mặc dù chúng tôi đã có nhiều cố gắng trong
    thu thập các nguồn tư liệu, nhưng không thể tránh
    khỏi những thiếu sót. Ban biên soạn mong nhận
    được những ý kiến đóng góp quý báu của bạn đọc
    để bộ sách được hoàn thiện và đầy đủ hơn trong
    lần xuất bản sau.
    Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!
    BAN BIÊN SOẠN

    11

    VÀNG LÝ TẢ

    Anh hùng Vàng Lý Tả sinh năm 1926, là
    người dân tộc Mông, quê ở xã Kim Bon, huyện
    Phù Yên, tỉnh Sơn La. Khi hy sinh, anh là liên lạc
    viên của huyện.
    Năm 1947, dưới sự lãnh đạo của tổ chức đảng,
    Vàng Lý Tả đã tích cực hoạt động cùng với cán bộ
    kháng chiến. Suốt 5 năm hoạt động (1947 - 1951),
    Vàng Lý Tả đã vận động các gia đình nuôi giấu
    cán bộ và trở thành cơ sở cách mạng.
    Trong thời gian làm liên lạc, chạy công văn,
    thư từ bí mật từ huyện đến xã, Vàng Lý Tả luôn
    được cán bộ tin cậy, không bao giờ để mất mát,
    nhầm lẫn tài liệu. Không chỉ làm liên lạc, anh còn
    kết hợp đi thu thập tin tức hoạt động của địch về
    báo cáo cho cơ sở, vì vậy cơ sở hoạt động có hiệu
    quả, an toàn.
    Tháng 8-1951, do bị chỉ điểm, Vàng Lý Tả bị
    địch bắt. Chúng tra tấn anh cực kỳ dã man (dội
    nước sôi vào đầu, tẩm dầu vào tay đốt, nhúng tay
    vào axít...) nhưng Vàng Lý Tả không hề hé răng

    12

    ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 3

    khai báo, quyết bảo vệ cách mạng, bảo vệ nhân
    dân. Không khuất phục được, giặc đem anh đi xử
    bắn. Vàng Lý Tả đã anh dũng hy sinh.
    Ngày 11-6-1999, Vàng Lý Tả được Nhà nước
    truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ
    trang nhân dân1.

    _____________
    1. Xem Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội đồng Thi
    đua - Khen thưởng Trung ương: Chân dung anh hùng
    thời đại Hồ Chí Minh, Nxb. Lao động, Nxb. Quân đội
    nhân dân, Hà Nội, 2000, t.I, tr.240.

    13

    LỘC VIỄN TÀI

    Anh hùng liệt sĩ Lộc Viễn Tài sinh năm 1940,
    là người dân tộc Tày, quê ở xã Vĩ Thượng, huyện
    Bắc Quang, tỉnh Hà Giang, công tác tại Đồn 155,
    Công an nhân dân vũ trang Hà Tuyên, giữ chức
    vụ Đồn trưởng Đồn 155.
    Khi cuộc chiến tranh biên giới nổ ra, Lộc Viễn
    Tài đang công tác tại đồn Công an nhân dân vũ
    trang biên phòng Lũng Làn (Đồn 155) tại vùng
    biên giới thuộc hai xã Sơn Vĩ và Sìn Cái, huyện
    Mèo Vạc, tỉnh Hà Tuyên.
    Sáng ngày 17-2-1979, hai tiểu đoàn bộ binh
    địch dồn dập bắn pháo cối dọn đường, theo đường
    mốc 138 và 140 ồ ạt tấn công Đồn 155. Lộc Viễn
    Tài chỉ huy mũi chính diện, trực tiếp bắn đại liên
    vào đội hình địch. Phát hiện 3 tên chỉ huy của
    địch, Lộc Viễn Tài đã lệnh cho cối bắn và tiêu diệt
    chúng. Đơn vị bẻ gãy nhiều đợt tấn công của địch,
    tiêu diệt và làm bị thương gần 100 tên, tạo điều
    kiện cho hai mũi khác diệt, làm bị thương gần 100
    tên nữa. Bị thiệt hại nặng, địch cho bộ binh lui ra

    14

    ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 3

    để củng cố đội hình, đồng thời cho pháo bắn cấp
    tập vào trận địa ta. Nhưng khi bộ binh địch lại
    xông lên, chúng đã bị cán bộ, chiến sĩ Đồn biên
    phòng 155 đánh bật ra.
    Ngày 5-3-1979, địch tập trung lực lượng
    quyết chiếm Đồn 155 và cao điểm 1379 của ta.
    Chúng cho pháo bắn trước, sau dùng bộ binh chia
    thành nhiều mũi ồ ạt tấn công, nhưng bị quân ta
    chống trả quyết liệt và đánh bật ra. Địch buộc
    phải tăng cường lực lượng. Lợi dụng thời tiết
    nhiều sương mù, Lộc Viễn Tài tổ chức lực lượng
    phục kích, dồn địch vào trận địa đã được bố trí
    hầm chông, bãi mìn gài sẵn, tiêu diệt nhiều tên
    địch, buộc chúng phải rút quân để củng cố đội
    hình. Trong trận chiến chống lại đợt tấn công tiếp
    theo, Lộc Viễn Tài đã chỉ huy một tổ chặn đánh từ
    xa, chia cắt đội hình địch ra từng mảng để dễ tiêu
    diệt. Nhưng quân địch quá đông, đạn sắp hết, anh
    lệnh cho hai chiến sĩ rút lui, còn mình dùng
    những viên đạn cuối cùng ghìm chân địch, bảo vệ
    đồng đội. Trong tay còn hai quả lựu đạn, Lộc Viễn
    Tài chờ địch đến gần, giật nụ xòe, ném vào đội
    hình địch, tiêu diệt và làm bị thương gần chục
    tên, còn anh đã anh dũng hy sinh. Trong các trận
    chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc riêng anh đã
    diệt và làm bị thương 91 tên.
    Khi hy sinh, Lộc Viễn Tài là đảng viên Đảng
    Cộng sản Việt Nam, mang quân hàm Thượng úy.

    LỘC VIỄN TÀI

    15

    Tên anh cùng 16 cán bộ, chiến sĩ Đồn 155 hy sinh
    trong những năm bảo vệ biên giới đã được khắc
    trên bia đá đặt gần đồn biên phòng Lũng Làn để
    người dân đời đời tưởng nhớ công ơn1.
    Lộc Viễn Tài được truy tặng Huân chương
    Quân công hạng Ba. Ngày 19-12-1979, Lộc Viễn
    Tài được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng
    Lực lượng vũ trang nhân dân.

    _____________
    1. Xem http://thanhnien.vn/thoi-su/bien-cuong-noianh-nga-xuong-ky-2-noi-nui-da-khac-ten-436609.html

    16

    THANH MINH TÁM

    Anh hùng Thanh Minh Tám (A Núk) sinh
    năm 1935, là người dân tộc Hrê, quê ở xã Hiếu,
    huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum. Khi được tuyên
    dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, Trung đội
    trưởng, Đại đội phó đặc công, Khu 9 Gia Lai.
    Mới 15 tuổi, Thanh Minh Tám đi theo cách
    mạng, ba năm liền làm liên lạc cho huyện đội,
    anh không quản ngại vất vả, khó khăn, liên tục
    chuyển công văn, chỉ thị của huyện xuống cơ sở
    một cách an toàn.
    Tháng 9-1953, Thanh Minh Tám vào bộ đội
    huyện. Năm 1954 được tập kết ra Bắc, đi học đặc
    công đến tháng 8-1960, anh trở về quê hương
    tham gia chiến đấu ở đại đội đặc công, làm Tiểu
    đội phó.
    Trong 6 năm, 1960-1966, Thanh Minh Tám đã
    đánh và chỉ huy đơn vị chiến đấu tại chiến trường
    Gia Lai, trưởng thành từ tiểu đội lên đại đội phó.
    Anh đã chỉ huy đơn vị đánh 16 trận lớn, nhỏ, cùng
    đơn vị diệt 3 trung đội bảo an, 2 tiểu đội dân vệ, 1
    đoàn bình định và 42 lính Mỹ. Đặc biệt trong trận

    THANH MINH TÁM

    17

    đánh vào sân bay Plâyku, Thanh Minh Tám đã
    chỉ huy đơn vị phá 42 máy bay, diệt 70 lính Mỹ.
    Riêng anh diệt 22 tên, thu 13 súng các loại, 3 máy
    bay thông tin PRC10, 1 thùng đạn, đánh sập 1
    nhà, diệt tên đại tá Mỹ chỉ huy sân bay, phá hủy 8
    máy bay1.
    Anh đã được tặng Huân chương Chiến công
    hạng Nhất, 7 bằng khen và giấy khen Dũng sĩ
    diệt Mỹ cấp ưu tú, Dũng sĩ diệt máy bay.
    Ngày 17-9-1967, Thanh Minh Tám được Ủy
    ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng
    miền Nam Việt Nam tặng thưởng danh hiệu Anh
    hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

    _____________
    1. Xem “24 đơn vị anh hùng và 46 cá nhân Anh
    hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam vừa được
    phong tặng”, Báo Quân đội nhân dân, số 2291, ngày
    13-10-1967, tr.3.

    18

    PI NĂNG TẮC

    Anh hùng Pi Năng Tắc sinh năm 1910, là
    người dân tộc Raglai, quê ở xã Phước Thành (nay
    thuộc huyện Bác Ái), huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh
    Thuận. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí
    là đảng viên, Chính trị viên phó Huyện đội.
    Anh tham gia cách mạng vào năm 1946. Trải
    qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống
    Mỹ, Pi Năng Tắc luôn chiến đấu hết mình, hoàn
    thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Năm
    1956, khi Mỹ - Diệm tiến hành dồn dân hai thôn
    của xã Phước Thành về khu tập trung. Năm 1958,
    Pi Năng Tắc trốn khỏi làng lên ở suốt sáu tháng
    trong rừng, luồn qua hoang rậm, trèo qua các
    dãy núi đá để liên lạc với các đồng chí đang hoạt
    động cách mạng. Ngày 30 Tết năm Kỷ Hợi 1959,
    Pi Năng Tắc cùng du kích quân và đồng bào
    thiểu số đã tập hợp lực lượng lên đến 5.000
    người, dùng vũ khí thô sơ đánh phá, đốt cháy các
    khu tập trung của địch. Anh đã tổ chức cho bà
    con kéo về làng cũ, lại cấy cày, chăn nuôi và

    PI NĂNG TẮC

    19

    huấn luyện các kỹ thuật chiến đấu để sẵn sàng
    chống lại các trận càn điên cuồng của giặc “cú vọ
    xâm lăng”.
    Sau đợt này, địch nghi ngờ, theo dõi gắt gao
    nên tổ chức buộc phải điều Pi Năng Tắc về hoạt
    động ở xã Phước Bình. Ở đây, cơ sở ta yếu, lại bị
    tề ngụy đàn áp, kích động mâu thuẫn giữa các
    dân tộc, tách dân tộc Churu rời xuống khu tập
    trung, còn dân tộc Raglai ở trên núi... Trong
    hoàn cảnh ấy, Pi Năng Tắc đã kiên trì tuyên
    truyền, thuyết phục nhân dân, khi thì lên núi ở
    với người Raglai, khi thì xuống khu tập trung ở
    với người Churu, vạch rõ âm mưu, thủ đoạn của
    địch, phân giải các mối bất hòa. Nhờ những nỗ
    lực của Pi Năng Tắc mà đến tháng 6-1960 đã có
    hơn 280 đồng bào1 bỏ khu “tập trung Tầm Ngân”
    trở về làng cũ làm ăn. Sau một thời gian, bà con
    hai dân tộc đã đoàn kết, họ cùng nhau tổ chức lễ
    uống rượu ăn thề giúp nhau sản xuất và đấu
    tranh chống địch. Ngoài ra, Pi Năng Tắc còn xây
    dựng được hai cơ sở bí mật hoạt động trong xã và
    vận động được ba tề điệp bỏ hàng ngũ địch về với
    cách mạng. Thấy quần chúng đã giác ngộ, anh
    cùng nhân dân phá khu tập trung, đưa đồng bào
    _____________
    1. Xem “Anh hùng quân đội Pi Năng Tắc - 20 năm
    trời kiên trì sản xuất và chiến đấu”, Báo Quân đội
    nhân dân, số 1524, ngày 25-5-1965, tr.3.

    20

    ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 3

    lên núi, thành lập đội du kích, vót chông, gài mìn,
    đào hầm, rào làng ngăn chặn và đánh địch.
    Trong chiến đấu, Pi Năng Tắc đã có rất
    nhiều sáng kiến đánh giặc, trong đó phải kể đến
    bẫy đá. Anh cho đào vách núi, dựng các cây gỗ
    lớn làm giàn, xếp đá lên trên, có lẫy tre gỗ, khi
    giật lẫy là cả núi đá hộc lăn xuống giết giặc. Anh
    cho làm các bẫy nỏ, các mũi tên ẩn trong các tán
    lá, hễ có “động” là lập tức các mũi tên tre có tẩm
    thuốc độc bắn ra như mưa. Trong các tán rừng,
    còn có hệ thống tre nứa vót nhọn liên kết với
    nhau thành bè mảng buộc thêm đá hộc thật
    nặng, khi giật lẫy là chúng bay ra, cắm phập cả
    một giàn, một phên vào kẻ thù. Có khi một giàn
    chông xiên cả chục tên giặc một “nhát”. Trên mặt
    đất, họ đào sẵn các hố sâu, rải lá mục và cây
    rừng ngụy trang lên trên, khi giặc dẫm lên lá
    mục, tên từ lòng đất bay lên như mưa, tên từ
    trên tán rừng dội xuống vun vút, đặc biệt kinh
    hoàng là đá hộc to bằng cả gian nhà lăn như trời
    long đất lở... Liên tiếp các trận càn của giặc bị
    nghĩa quân Pi Năng Tắc bẻ gãy.
    Tháng 5-1960, địch càn lên núi bị du kích
    đánh, diệt và làm bị thương 20 tên buộc chúng
    phải rút chạy. Trận chống càn năm 1962, một tiểu
    đoàn lính ngụy, một đại đội lính bảo an, rồi cả
    lính Mỹ cùng tổ chức trận càn lớn lên Phước Bình,
    quyết tiêu diệt “đám giặc cỏ” lẩn lút trong rừng

    PI NĂNG TẮC

    21

    sâu. Từ trên núi cao, 3 tổ du kích đã được Pi Năng
    Tắc bố trí lừa, dụ địch vào ổ phục kích, 17 bẫy đá,
    nhiều mang cung, hầm chông và hàng vạn mũi
    tên tẩm thuốc độc đã ra sức tiêu diệt địch. Hơn
    100 tên chết thảm, ta thu về chiến lợi phẩm là
    5.000 viên đạn, 27 khẩu súng, nhiều quân trang
    quân dụng khác.
    Tháng 5-1961, giặc lại càn lần thứ hai với 350
    tên, có máy bay, đại bác yểm hộ. Pi Năng Tắc
    cùng đồng đội chờ cho địch lọt vào ổ phục kích rồi
    dùng cung tên, bẫy đá tiêu diệt chúng. Cuộc chiến
    đấu diễn ra suốt 3 tiếng đồng hồ từ 13 giờ đến 16
    giờ chiều. Trong trận chống càn này, du kích đã
    diệt và làm bị thương 80 tên1.
    Ngoài ra, Pi Năng Tắc còn có nhiều thành tích
    trong việc vận động phong trào sản xuất tự túc,
    xây dựng cuộc sống mới.
    Ngày 5-5-1965, Pi Năng Tắc được Nhà nước
    tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng
    hạng Nhì và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ
    trang nhân dân.

    _____________
    1. Xem “Anh hùng quân đội Pi Năng Tắc - 20 năm
    trời kiên trì sản xuất và chiến đấu”, Báo Quân đội
    nhân dân, số 1524, Tlđd, tr.3.

    22

    HOÀNG VĂN TẤM

    Anh hùng liệt sĩ Hoàng Văn Tấm là người dân
    tộc Thái, sinh năm 1958 tại xã Lay Nưa, huyện
    Mường Lay, tỉnh Lai Châu (nay là xã Lay Nưa,
    thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên).
    Tháng 10-1975, Hoàng Văn Tấm tốt nghiệp
    chương trình nghiệp vụ công an, được điều về
    công tác tại Phòng Cảnh sát bảo vệ, Ty Công an
    Lai Châu và được đề bạt làm Tiểu đội trưởng.
    Tháng 2-1979, chiến tranh biên giới phía
    Bắc xảy ra. Lúc này, với cương vị là Trung đội
    phó, Hoàng Văn Tấm đã cùng các đồng đội trong
    đơn vị vận động quần chúng chuẩn bị tinh thần
    sẵn sàng sơ tán về tuyến sau. Trong trận chiến
    đấu bảo vệ chốt C5, trước sự tấn công quyết liệt
    của địch, Hoàng Văn Tấm đã cùng đồng đội
    chặn đứng nhiều đợt tấn công của chúng, riêng
    đồng chí đã tiêu diệt trên 10 tên địch và làm bị
    thương nhiều tên khác. Trong trận chiến này,
    Hoàng Văn Tấm và các đồng đội đã giữ vững
    được chốt, nhưng do lực lượng quá chênh lệch,

    HOÀNG VĂN TẤM

    23

    đồng chí đã anh dũng hy sinh ngay tại chiến
    hào ngày 6-3-1979.
    Ngày 13-8-1980, Hoàng Văn Tấm được Nhà
    nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ
    trang nhân dân. Khi hy sinh đồng chí là Trung
    đội phó thuộc Tiểu đoàn Cảnh sát bảo vệ cơ động
    Công an tỉnh Lai Châu.

    24

    NGUYỄN VĂN TẤN
    Anh hùng Nguyễn Văn Tấn là người dân tộc
    Tày, sinh năm 1942, tại xã Hà Vị, huyện Bạch
    Thông, tỉnh Bắc Kạn. Khi được tuyên dương Anh
    hùng, đồng chí là đảng viên, Chuẩn úy, Trung đội
    trưởng sửa chữa xe tăng thuộc Đại đội 201, Tổng
    cục Hậu cần.
    Từ năm 1967 đến năm 1973, Nguyễn Văn Tấn
    làm nhiệm vụ sửa chữa xe tăng, xe xích cho các
    đơn vị chiến đấu ở Khu 4, Quảng Trị, đường 9 Nam Lào. Mặc dù địch đánh phá ác liệt, anh vẫn
    thường xuyên theo sát các đơn vị chiến đấu để sửa
    chữa xe. Bất kỳ lúc nào gặp xe hỏng mà cần sửa
    gấp là anh làm ngay. Hàng chục lần đang sửa thì
    máy bay địch đến bắn phá, anh vẫn bình tĩnh
    thực hiện nhiệm vụ; ba lần bom nổ, bị đất đá vùi
    lấp, ngất đi, khi tỉnh dậy anh lại tiếp tục công
    việc. Anh chỉ huy trung đội sửa chữa được 150 lần
    chiếc xe tăng, xe xích. Riêng anh sửa 60 lần chiếc
    xe, phục vụ kịp thời cho chiến đấu.
    Mặc dù là thợ sửa chữa điện xe nhưng do chịu
    khó học hỏi, anh đã sửa chữa giỏi nhiều bộ phận
    khác của xe tăng, xe xích (cả của ta và của địch)

    NGUYỄN VĂN TẤN

    25

    và lái thành thạo các loại xe. Đặc biệt, Nguyễn
    Văn Tấn luôn tích cực phát huy sáng kiến, cải
    tiến kỹ thuật, trong đó có rất nhiều sáng kiến đã
    được phổ biến trong các đơn vị nhờ đó mà các đơn
    vị sửa chữa xe tăng ngày càng đạt được hiệu quả
    cao trong công tác, như: nghiên cứu cải tiến ly hợp
    của xe D-350 thay thế cho xe PT-C bảo đảm tốt;
    cải tiến rà nấm xe AT-C trước đây hai người làm
    mất 36 giờ, nay một người làm trong 20 giờ; trước
    kia muốn kéo bánh tì xe AT-R thông thường phải
    dùng búa đóng, nay anh làm thêm một bộ phận
    tăng giảm xích, tạo thành một cái van tháo bánh
    tì, đưa năng suất tăng gấp 3 lần; trước đây một
    cái phớt dạ bánh tì hỏng sẽ không có phớt thay
    thế, xe không hoạt động được thì nay anh có sáng
    kiến dùng xăm, lốp ô tô cắt làm phớt, giải quyết
    được khó khăn cho đơn vị,...
    Anh đã 214 lần kéo giúp xe của đơn vị bị đổ
    dọc đường, đào bới hầm bị bom đánh sập cứu
    được 5 đồng đội, giúp đỡ nâng cao tay nghề cho 24
    thợ sửa chữa.
    Nhờ những thành tích đã đạt được trong công
    tác, Nguyễn Văn Tấn được tặng thưởng 2 Huân
    chương Chiến công hạng Ba, 4 lần là Chiến sĩ
    quyết thắng, 6 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ
    thi đua, 24 bằng khen, giấy khen.
    Ngày 31-12-1973, Nguyễn Văn Tấn được Nhà
    nước tặng thưởng danh hiệu Anh hùng Lực lượng
    vũ trang nhân dân.

    26

    TRIỆU XUÂN TÂNG

    Anh hùng Triệu Xuân Tâng (tức Triệu Xuân
    Công) sinh năm 1946, là người dân tộc Nùng, quê
    ở xã Quốc Dân, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao
    Bằng. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí
    là đảng viên, Thượng sĩ, Trung đội trưởng bộ binh
    thuộc đoàn 28, Quân khu Tây Bắc.
    Triệu Xuân Tâng làm nhiệm vụ giúp Lào
    xây dựng cơ sở cách mạng ở tỉnh Luông Pha
    Băng từ năm 1967 đến năm 1973. Anh kiên trì
    bám đất, bám dân, tuyên truyền vận động quần
    chúng tham gia phong trào cách mạng. Trong
    chiến đấu, Triệu Xuân Tâng thể hiện tinh thần
    tiến công tiêu diệt địch cao, chỉ huy trung đội
    tiêu diệt trên 100 tên địch, bản thân diệt 26 tên.
    Tháng 2-1968, anh cùng một chiến sĩ đi xây
    dựng cơ sở ở bắc Huôi Nhang thì bị lộ, địch bao
    vây, đánh úp. Đồng đội hy sinh, một mình anh
    kiên cường đánh trả địch, diệt 8 tên. Khi rút,
    Triệu Xuân Tâng còn cõng đồng đội về mai táng
    chu đáo.

    TRIỆU XUÂNG TÂNG

    27

    Trận đánh Phu Đăm ngày 14-4-1972, anh chỉ
    huy tổ mũi nhọn đánh thọc vào giữa vị trí địch,
    diệt sở chỉ huy, tạo điều kiện thuận lợi cho đồng
    đội tiến lên diệt đại đội của địch. Trong trận này,
    riêng anh diệt được 20 tên địch.
    Không chỉ hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu
    mà Triệu Xuân Tâng còn làm tốt nhiệm vụ xây
    dựng cơ sở cách mạng. Anh đã cùng sống, cùng lao
    động với nhân dân Lào và kiên trì học nói, đọc và
    viết thành thạo ngôn ngữ bản địa, nhờ vậy mà
    việc tuyên truyền giáo dục quần chúng nhân dân
    có kết quả rất tốt. Triệu Xuân Tâng đã cùng các
    cán bộ địa phương xây dựng được cơ sở cách mạng
    ở 10 xã, bồi dưỡng được 7 cán bộ trong huyện.
    Với những cống hiến của mình anh đã được
    tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công hạng
    Nhì, 1 Huân chương Chiến công hạng Ba, 6 bằng
    khen, giấy khen.
    Ngày 31-12-1973, Triệu Xuân Tâng được Chủ
    tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng
    thưởng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang
    nhân dân.

    28

    TÀO VĂN TEM

    Anh hùng Tào Văn Tem sinh năm 1956, là
    người dân tộc Thái, quê ở xã Chà Tở, huyện Mường
    Chà, tỉnh Điện Biên. Khi được tuyên dương Anh
    hùng, anh là đoàn viên Đoàn Thanh niên Cộng sản
    Hồ Chí Minh, Thượng sĩ, trinh sát viên, Đồn 1
    Công an nhân dân vũ trang tỉnh Lai Châu.
    Công tác trên địa bàn có nhiều đồng bào dân
    tộc thiểu số sinh sống, Tào Văn Tem đã mày mò
    và tự học tiếng của các dân tộc: Mông, Hà Nhì,
    Dao. Nhờ vậy anh đã giành được sự tin yêu của
    đồng bào, xây dựng được nhiều cơ sở vững chắc ở
    địa bàn công tác.
    Khi chiến tranh biên giới phía Bắc xảy ra,
    được cấp trên giao nhiệm vụ chỉ huy một tổ
    chiến đấu chặn đánh địch, Tào Văn Tem vừa
    mưu trí dũng cảm chỉ huy, động viên đồng đội
    chiến đấu vừa trực tiếp tham chiến. Anh cùng
    đồng đội đã đẩy lùi đợt tấn công của địch và tiêu
    diệt nhiều tên. Riêng anh diệt 10 tên, cùng toàn
    tổ giữ vững trận địa, hoàn thành xuất sắc nhiệm
    vụ được giao.

    TÀO VĂN TEM

    29

    Chấp hành mệnh lệnh của cấp trên, Tào Văn
    Tem chuyển hướng hoạt động trong địa bàn sau
    lưng địch. Tào Văn Tem vừa chủ động nắm bắt
    tình hình hoạt động của địch, vừa nâng cao tinh
    thần cảnh giác, phòng ngừa các âm mưu, thủ
    đoạn phá hoại mới của chúng. Dựa vào các cơ sở
    đã xây dựng trước đây, Tào Văn Tem đã bắt và xử
    lý nhiều tên phản động, chỉ điểm, thám báo của
    địch, góp phần đập tan âm mưu nhen nhóm tổ
    chức phản động, gây bạo loạn cướp chính quyền
    của địch, bảo vệ tính mạng và tài sản nhân dân.
    Dù hoạt động ở sau lưng địch, Tào Văn Tem vẫn
    kịp thời tổ chức, củng cố đội ngũ dân quân, cùng
    dân quân bám trụ chiến đấu bảo vệ địa bàn trước
    các hành động phá hoại của quân địch1.
    Với nhiều thành tích đạt được trong công tác
    và chiến đấu, Tào Văn Tem đã được tặng thưởng
    1 Huân chương Chiến công hạng Nhì. Ngày 1912-1979, Tào Văn Tem được Nhà nước phong
    tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang
    nhân dân.

    _____________
    1. Xem http://www.vnmilitaryhistory.net/index.
    php?topic=185.30

    30

    HÀ VĂN THANH

    Anh hùng Hà Văn Thanh sinh năm 1948, là
    người dân tộc Thái, quê ở xã Lương Sơn, huyện
    Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Khi được tuyên
    dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, Thượng
    sĩ, Trung đội phó Đại đội 11 ô tô vận tải, Tiểu
    đoàn 51, Binh trạm 34, Đoàn 559.
    Phục vụ trên một tuyến đường địch đánh phá
    rất ác liệt, anh luôn nêu cao tinh thần trách
    nhiệm, tận tụy, dũng cảm, mưu trí, dẫn đầu đơn vị
    về vượt cung tăng chuyến đưa hàng tới đích
    nhanh, đủ và tốt. Nhiều lần anh không quản nguy
    hiểm, bật đèn sáng chạy rẽ sang hướng khác để
    thu hút máy bay địch, cứu được cả đoàn xe của đơn
    vị bạn1.
    Từ năm 1969 đến năm 1972, Hà Văn Thanh
    lái xe vận chuyển tuyến đường 559. Trong quá
    _____________
    1. Xem “75 đơn vị anh hùng và 21 anh hùng lực
    lượng vũ trang nhân dân Việt Nam vừa được tuyên
    dương”, Báo Quân đội nhân dân, số 4422, ngày 6-9-1973,
    tr.4.

    HÀ VĂN THANH

    31

    trình làm nhiệm vụ, mặc dù hàng chục lần máy
    bay địch đánh phá khiến nhiều lần xe hỏng giữa
    đường, nhiều ngày mưa lũ, đường lầy lội, khó đi,
    nhưng anh vẫn quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ,
    luôn dẫn đầu đơn vị về vượt cung, tăng chuyến
    đưa hàng tới đích an toàn, đủ số lượng. Hà Văn
    Thanh chạy 233 tuyến, có 146 chuyến vượt cung
    độ từ 2 đêm/chuyến xuống 1 đêm/chuyến; chuyển
    được 1.066 tấn hàng; khi về chuyển được 755
    thương binh về phía sau an toàn; tiết kiệm được
    1.500 lít xăng, thu nhặt được 3 tấn phụ tùng
    máy móc ở các xe bị địch đánh hỏng và 2.340 vỏ
    phuy xăng,...
    Hà Văn Thanh đã nhiều lần dũng cảm cứu
    người, cứu xe, cứu hàng, nêu gương tốt cho toàn
    đơn vị học tập. Có lần đoàn xe của đơn vị vừa tới
    trọng điểm thì máy bay địch ném bom. Bom nổ,
    anh vẫn cố giữ thăng bằng, vượt ra khỏi bãi bom,
    nhanh chóng sửa cả bốn lốp xe bị thủng, tiếp tục
    đưa hàng tới đích an toàn. Có hai lần thấy đoàn
    xe bị máy bay C130 đánh, Hà Văn Thanh mưu trí
    bật đèn xe chạy sang hướng khác thu hút hỏa lực
    địch, nhờ đó cả đoàn 12 chiếc chở đầy hàng được
    an toàn. Có lần đang lái xe trên đường, gặp xe
    bạn bị máy bay địch bắn cháy, anh đã dũng cảm
    lao vào dập tắt lửa và nhanh chóng lái chiếc xe
    đến nơi an toàn. Sau khi băng bó cho đồng đội chu
    đáo, Hà Văn Thanh tiếp tục lái xe của mình đến

    32

    ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 3

    đích đúng thời gian quy định. Anh đã kéo và sửa
    chữa xe cho bạn 80 lần, bồi dưỡng giúp đỡ 8 đồng
    chí trở thành lái chính.
    Trong suốt những năm tháng trên chiến
    trường, Hà Văn Thanh đã lái 38.221km an toàn.
    Đồng chí được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến
    công hạng Ba, 2 lần là Chiến sĩ quyết thắng, 5 lần
    là Chiến sĩ thi đua, 42 bằng khen.
    Ngày 3-9-1973, Hà Văn Thanh được Nhà
    nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng
    vũ trang nhân dân.

    33

    BẾ VĂN THÀNH

    Anh hùng Bế Văn Thành sinh năm 1946, là
    người dân tộc Tày, quê ở xã Hồng Quang, huyện
    Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng. Khi hy sinh, đồng
    chí là đảng viên, Thượng sĩ, Trung đội phó thuộc
    Đại đội 3 bộ binh, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 48, Sư
    đoàn 320, Quân đoàn 3.
    Hoạt động trên chiến trường Trị Thiên và Tây
    Nguyên từ năm 1966 đến năm 1974, Bế Văn Thành
    khi làm chiến sĩ vận tải, lúc trực tiếp chiến đấu,
    nhiệm vụ nào cũng hoàn thành xuất sắc.
    Trong công tác vận tải, Bế Văn Thành đã vượt
    qua nhiều khó khăn, nguy hiểm, chuyển được 60
    tấn hàng ra mặt trận, bảo đảm số lượng, chất
    lượng, đúng thời gian quy định. Trong chiến đấu,
    anh luôn phát huy cao tinh thần xung phong,
    gương mẫu, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Trong trận
    đánh ngày 3-4-1973, địch tuy đông lại có xe tăng,
    pháo binh, máy bay yểm trợ, phản kích vào trận
    địa chốt của ta nhưng Bế Văn Thành vẫn động
    viên anh em quyết tâm chiến đấu. Hết đạn, anh

    34

    ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 3

    lấy súng cối địch để diệt địch, giữ vững chốt. Trận
    này, anh diệt 10 tên, bắt sống 3 tên, thu 6 súng.
    Năm 1974, trong trận tiêu diệt căn cứ làng
    Siêu, Bế Văn Thành chỉ huy một bộ phận nhanh
    chóng đánh chiếm lô cốt đầu cầu tạo điều kiện cho
    toàn đơn vị xông lên diệt địch trong căn cứ. Sau
    khi đã diệt xe bọc thép và một số hỏa điểm ở nơi
    cửa mở, anh dẫn đầu đơn vị xông lên chiếm điểm
    cao, chỉ huy đồng đội diệt từng mục tiêu. Trận
    đánh sắp kết thúc thì anh bị thương nặng. Trước
    lúc hy sinh, Bế Văn Thành còn trao súng và động
    viên đồng đội tiếp tục truy quét địch.
    Anh được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến
    công giải phóng hạng Nhất, 1 Huân chương Chiến
    đấu giải phóng hạng Ba, 4 lần được tặng danh
    hiệu Dũng sĩ, 8 bằng khen.
    Ngày 6-11-1978, Bế Văn Thành được Nhà
    nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ
    trang nhân dân.

    35

    GIÀNG A THÀO

    Anh hùng Giàng A Thào sinh năm 1935, là
    người dân tộc Dao, quê ở xã Sùng Đô, huyện Văn
    Chấn, tỉnh Yên Bái. Khi được tuyên dương Anh
    hùng, đồng chí là đảng viên, cán bộ xã Sùng Đô,
    huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái1.
    Giàng A Thào là một đảng viên người dân tộc
    Dao, một cán bộ năng nổ của xã Sùng Đô, luôn
    bền bỉ đến từng gia đình đồng bào các dân tộc vận
    động xây dựng và củng cố hợp tác xã. Giàng A
    Thào đã cùng với tập thể xã viên cày bừa, làm
    ruộng bậc thang, phát triển chăn nuôi, mở rộng
    diện tích trồng lúa. Anh còn tích cực vận động bà
    con phát triển cây chè và một số loại cây công
    nghiệp khác. Nhờ vậy, xã viên không những tự
    túc được lương thực mà còn có đủ lương thực bán
    cho Nhà nước, đời sống vật chất và văn hóa của xã
    _____________
    1. Xem Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Hội
    đồng Thi đua - Khe...
     
    Gửi ý kiến