20-11 là ngày gì? Nguồn gốc, ý nghĩa của ngày Nhà giáo Việt Nam
Truyện cổ Gim

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phùng Thị Thu
Ngày gửi: 05h:02' 18-11-2025
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Phùng Thị Thu
Ngày gửi: 05h:02' 18-11-2025
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Truyện cổ Grim
Anh em nhà GRIM
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động
Nguồn: SachMoi.Net
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Mục lục
Nàng công chúa chăn ngỗng
Cây củ cải
Jôrinđơ và Jôgigơn
Lên thiên đàng
Hênxen và Grêten
Chú Hanh lười biếng
Con quỷ và bà nó
Ả Grêten thông minh
Bà lão chăn ngỗng
Con mèo đi hia
Cô bé quàng khăn đỏ
Chú bé tí hon
Cô bé lọ lem
Nàng Bạch Tuyết
Ngôi nhà trong rừng
Đứa con vàng
Cô bé hai mắt
Ba cô chị
Con quỷ nhốt trong lọ
Vua trộm
Con rắn trắng
Người đầy tớ trung thành
Cuộc ngao du của tí hon
Mười hai người thợ săn
Ba sợi tóc vàng của quỷ
Mèo làm thân với chuột
Hai anh em
Người thợ săn tài giỏi
Chọn vợ
Gã thợ xay nghèo khó
Hanxơ sắt
Hai ông cháu
Sáu con thiên nga
Chú bé nghèo dưới nấm mồ
Những người khôn
Chú Hanxơ sung sướng
Người da gấu
Bác nông dân và con quỷ
Cỗ quan tài thủy tinh
Quà của người tí hon
Sợi vứt đi
Một đòn chết bảy
Con nam ở ao
Sáu người hầu
Đồ bỏ xó
Vua quạ
Ngọn đèn xanh
Thỏ và nhím
Hoàng Anh và gấu
Con ngỗng vàng
Học rùng mình
Anh và em gái
Ba bà kéo sợi
Thần chết đỡ đầu
Vua núi vàng
Ba người lùn trong rừng
Rau lừa
Ong chúa
Bảy con quạ
Nước trường sinh
Chim ưng thần
Bạch Tuyết và Hồng Hoa
Đôi giày ủng da trâu
Chim sơn ca
Anh chàng đánh trống
Ba anh em
Vợ chồng người đánh cá
Đóa hồng
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Nàng công chúa chăn ngỗng
Ngày xưa có một bà hoàng hậu tuổi đã cao. Đức vua chết đã
lâu. Bà có một cô con gái rất xinh đẹp. Khi lớn lên, nàng được hứa
hôn với một chàng Hoàng tử con vua một nước xa xôi. Đến ngày tổ
chức lễ cưới, nàng công chúa sửa soạn đi nước xa lạ. Mẹ nàng gói
ghém cho nàng những vật quí giá: đồ trang sức, vàng, bạc, cốc, châu
ngọc, tóm lại là tất cả những gì xứng đáng làm của hồi môn cho một
công chúa, vì mẹ nàng rất mực thương nàng. Mẹ nàng gửi gắm
nàng cho một thị nữ có nhiệm vụ dẫn nàng đi đến chỗ ở người
chồng chưa cưới. Mỗi người cưỡi một con ngựa. Ngựa công chúa cưỡi
tên là Phalađa, biết nói. Đến lúc chia tay, bà hoàng vào trong phòng
ngủ, lấy một con dao nhỏ trích ngón tay, để chảy ba giọt máu. Bà
cho máu thấm xuống một cái khăn trắng nhỏ, đưa cho cô gái và
dặn: "Con thân yêu, con hãy giữ gìn cẩn thận cái khăn này, nó sẽ có
ích cho con trên đường đi".
Hai mẹ con buồn bã từ biệt nhau. Công chúa áp cái khăn lên
ngực, nhảy lên yên ngựa để đi đến nơi ở của người yêu. Sau khi đã
đi một tiếng, cô cảm thấy khát khô họng, bèn bảo thị nữ: "Em hãy
xuống ngựa, lấy cốc của ta múc nước suối kia và mang lại đây cho
ta, ta khát nước lắm" - "Nếu cô khát, thị nữ trả lời, thì hãy tự nhảy
xuống, rồi vươn người ra trên mặt nước mà uống. Tôi không phải là
đầy tớ của cô".
Công chúa khát lắm, bèn xuống ngựa, cúi xuống dòng nước
suối để uống nước. Nàng không dám uống nước bằng cốc vàng. "Trời
ơi!" nàng kêu to. Ba giọt máu bảo cô: "Nếu mẹ cô biết sự tình thế
này, thì hẳn tim bà sẽ tan nát trong ngực". Nhưng công chúa là
người can đảm. Nàng không nói gì và lại nhảy lên ngựa. Ngựa phi
được vài dặm. Trời thì nóng nực, chẳng mấy chốc nàng lại khát
nước. Tới một con sông, nàng bảo thị nữ: "Em hãy xuống ngựa và
cho ta uống nước bằng cái cốc vàng". Cô đã quên đứt những lời độc
ác của thị nữ. Nhưng thị nữ lại trả lời ngạo mạn hơn: "Nếu cô khát
thì tự đi uống nước một mình, tôi không phải là đầy tớ của cô".
Công chúa khát quá, nhảy xuống ngựa, cúi xuống dòng nước chảy
xiết, khóc và kêu lên: "Trời ơi!" Ba giọt máu liền đáp lại: "Nếu mẹ cô
biết sự tình thế này, thì hẳn tim bà tan nát trong ngực". Trong khi
cô cúi xuống để uống thì cái khăn có thấm ba giọt máu, tuột khỏi
ngực cô và trôi theo dòng nước mà cô không hay biết, vì lúc đó cô rất
sợ hãi. Thị nữ thì lại trông thấy hết và nó rất vui mừng từ giờ trở đi
công chúa sẽ bị nó trả thù. Từ lúc đánh mất ba giọt máu, công chúa
trở nên yếu đuối, không đủ sức tự vệ nữa. Khi nàng định trèo lên
con ngựa Phalađa thì thị nữ bảo: "Tôi sẽ cưỡi con Phalađa, còn cô,
cô hãy cưỡi con ngựa tồi của tôi". Công chúa đành làm như vậy.
Tiếp đó thị nữ ra lệnh, lời lẽ gay gắt, bắt nàng phải cởi quần áo
hoàng cung ra và mặc quần áo của nó vào.
Cô lại phải thề với trời đất là khi đến cung điện sẽ không nói lộ
ra. Nếu cô không chịu thề thì nó sẽ giết cô tại chỗ. Nhưng con
Phalađa đã quan sát tất cả và ghi nhớ tất cả.
Thị nữ cưỡi con Phalađa, còn công chúa thì cưỡi con ngựa tồi.
Nó lại tiếp tục đi, cuối cùng đến lâu đài nhà vua. Ở đấy, mọi người
rất vui mừng khi họ tới, và Hoàng tử vội chạy tới tận nơi đón họ, đỡ
thị nữ xuống ngựa, vì tưởng rằng đó là vợ chưa cưới của mình. Thị
nữ đi lên bậc thềm lâu đài, còn nàng công chúa thì phải đứng lại
ngoài sân. Vua cha nhìn ra, qua cửa sổ thấy nàng duyên dáng và
tuyệt đẹp. Người vào trong cung hỏi cô gái được coi là vợ chưa cưới
của Hoàng tử xem cô gái đứng ngoài sân là ai. "Tâu vua cha, con đã
gặp cô gái đó trên đường đi và con đưa cô ta đi cùng để đỡ lẻ loi một
mình. Xin vua cha cho cô ta làm việc để cô ta khỏi phải vô công rồi
nghề".
Nhưng vua cha không có việc gì giao cho cô làm cả. Người bảo:
"Ở ngoài kia, ta có một anh chàng chăn ngỗng, hãy để cô ta giúp
việc vậy. Chàng trai tên là Cuốc. Vợ chưa cưới của Hoàng tử phải
giúp anh chăn ngỗng.
Ít lâu sau, vợ chưa cưới giả tâu với hoàng tử: "Chàng thân yêu
ơi, em muốn một điều, chàng hãy làm vui lòng em". Hoàng tử nói:
"Được thôi!"
- Chàng hãy cho gọi người thợ lột da đến đập chết con ngựa em
đang cưỡi đến đây, vì trong khi đi đường nó làm em bực tức".
Thật ra thì nó sợ con ngựa kể lại cách nó đã đối xử với công
chúa. Đến lúc con ngựa trung thành Phalađa phải chết thì công
chúa được tin. Nàng hứa với người thợ lột da là sẽ bí mật biếu anh
một đồng tiền bằng bạc nếu anh giúp nàng một việc nhỏ. Trong đô
thị có một cái cổng to rất tối, hàng ngày, sớm tối nàng phải dẫn đàn
ngỗng đi qua. Nàng xin người thợ lột da hãy đóng đanh treo đầu
con Phalađa vào cái cổng ấy để nàng có thể luôn luôn trông thấy nó.
Người thợ lột da hứa sẽ làm và bác đóng chặt đanh treo đầu ngựa
vào dưới cái cổng tối om.
Sáng sớm, khi cùng Cuốc đi qua cổng, cô bảo cái đầu:
"Ôi, Phalađa, mày bị treo ở đây ư!"
Cái đầu trả lời:
"Ôi! Nàng công chúa của tôi, nàng qua đây ư! Nếu mẹ nàng biết
nông nỗi này tim mẹ sẽ vỡ tan tành"
Lặng lẽ, cô đi khỏi đô thị, dẫn đàn ngỗng ra cánh đồng. Đến
đồng cỏ, cô ngồi xuống và rũ tóc ra. Tóc cô óng ánh như vàng
nguyên chất và Cuốc rất thích nhìn mớ tóc ấy lóe sáng. Anh muốn
nhổ vài sợi tóc. Công chúa bèn nói:
"Ta khóc đây, ta khóc đây! Hỡi làn gió nhẹ. Hãy cuốn cái mũ
của Cuốc đi! Anh ta sẽ chạy theo cái mũ cho đến khi nào tóc ta chải
và tết xong".
Tức thì gió thổi mạnh cuốn đi cái mũ của Cuốc. Anh ta chạy
theo ngay. Khi anh trở về thì công chúa đã chải đầu xong và anh
không nhổ được sợi tóc nào. Anh rất bực và không nói năng gì với cô
nữa. Họ lại tiếp tục chăn ngỗng đến chiều, rồi cùng về nhà.
Sáng sớm hôm sau, khi lùa ngỗng qua cổng, cô gái nói:
"Ôi, Phalađa, mày bị treo ở đây ư!"
Cái đầu trả lời:
"Ôi! Nàng công chúa của tôi, nàng qua đây ư! Nếu mẹ nàng biết
nông nỗi này, tim mẹ sẽ vỡ tan tành"
Đi ra khỏi đô thị, cô lại ngồi trên đồng cỏ và lại rũ tóc ra chải.
Cuốc muốn nắm lấy mớ tóc. Cô vội vàng nói:
"Ta khóc đây, ta khóc đây! Hỡi làn gió nhẹ, hãy cuốn cái mũ
của Cuốc đi! Anh ta sẽ chạy theo cái mũ cho đến khi nào tóc ta chải
và tết xong".
Gió nổi lên, cuốn cái mũ đi. Cuốc phải chạy theo. Khi anh trở
về thì công chúa đã chải đầu xong từ lâu và anh không nắm được
mớ tóc ấy. Và rồi hai người lại cùng chăn ngỗng đến chiều.
Nhưng chiều hôm ấy, về tới nhà, Cuốc đến gặp vua cha và tâu:
"Kính thưa hoàng thượng, con không thể chăn ngỗng cùng cô gái
này nữa" - "Tại sao vậy?", vua hỏi. "Suốt ngày, cô ta làm con bực
mình!" - Vua cha bảo anh kể lại sự việc đã xảy ra. Cuốc nói: "Buổi
sáng, chúng con dẫn đàn ngỗng qua cái cổng tối om, ở đấy có một
cái đầu ngựa treo trên tường. Cô ta nói với nó: "Ôi, Phalađa, mày bị
treo ở đây ư!" Cái đầu trả lời: "Ôi! Nàng công chúa của tôi, nàng
qua đây ư! Nếu mẹ nàng biết nông nỗi này tim mẹ sẽ vỡ tan tành"
Và Cuốc kể các sự việc đã xảy ra ở cánh đồng chăn ngỗng và tại
sao anh ta lại phải chạy theo cái mũ.
Vua cha dặn anh ta ngày hôm sau cứ đi chăn ngỗng như
thường lệ. Sáng sớm ngài thân chinh đến dưới cái cổng tối om và
nghe được những câu cô gái nói với cái đầu Phalađa. Ông theo ra
cánh đồng và nấp vào một bụi cây. Chính mắt ngài trông thấy anh
thanh niên và cô gái lùa ngỗng thế nào và sau một lúc, cô gái ngồi
xuống gỡ mớ tóc vàng lóe sáng. Rồi cô lại nói:
"Ta khóc đây, ta khóc đây! Hỡi làn gió nhẹ, hãy cuốn cái mũ
của Cuốc đi! Anh ta sẽ chạy theo cái mũ cho đến khi nào tóc ta chải
và tết xong".
Một cơn gió thổi mạnh, cuốn cái mũ đội đầu của Cuốc đi. Anh
phải chạy theo rất xa. Cô gái chăn ngỗng chải tóc và cuốn thành
từng búp. Vua cha nhìn thấy tất cả. Không ai nhận ra ngài khi ngài
rời khỏi đó. Chiều đến, cô gái về nhà, ngài cho gọi cô đến và hỏi tại
sao cô lại làm như thế. "Tâu bệ hạ, con không thể nói được", - cô trả
lời. - "Con không thể kể nỗi khổ của con với bất cứ ai trên thế gian
này, con đã thề như vậy để khỏi bị người ta giết".
Vua cha cô ép cô nói, nhưng ngài không biết được gì thêm bèn
nói: "Nếu con không muốn nói với ta, thì con hãy kể nỗi khổ của con
với cái bếp lò này". Rồi ông bỏ đi. Cô đến ngồi gần cái bếp lò, than
khóc, thổ lộ tâm can:
"Ta ngồi đây, bị cả thế gian ruồng bỏ, dù ta là con vua. Một tên
thị nữ độc ác đã áp chế ta, bắt ta đổi cho nó quần áo hoàng cung. Nó
thay thế ta để làm vợ chưa cưới của người yêu ta, và ta bắt buộc
phải làm công việc bình thường của người chăn ngỗng. Nếu mẹ ta
biết nông nỗi này, tim bà sẽ tan nát".
Vua cha đứng ở phía tường bên kia gần ống thông hơi, ngài đã
nghe thấy hết. Ngài trở về và gọi cô hãy rời cái lò đến gặp ngài.
Người ta mang đến cho cô quần áo hoàng cung, cô mặc vào đẹp
như là có phép lạ. Vua cha cho gọi con trai đến và bảo cho con biết
về cô vợ chưa cưới giả mạo. Cô người yêu thật đứng trước chàng,
đấy là cô gái chăn ngỗng.
Hoàng tử thấy cô rất đẹp và phúc hậu nên lòng tràn ngập niềm
vui. Một bữa tiệc được sửa soạn để mời tất cả các bạn bè thân
thuộc. Hoàng tử và công chúa ngồi ở đầu bàn, trước mặt họ là con
thị nữ. Nó bị chỗáng ngợp và không nhận ra cô chủ trang sức lộng
lẫy. Khi họ đang ăn uống vui vẻ, vua cha ra một câu đố cho thị nữ.
Nó phải trả lời là một người đàn bà lừa dối chủ thì sẽ bị xử tội như
thế nào. Ngài kể các sự việc đã xảy ra và hỏi nó: "Như thế sẽ xứng
đáng với hình phạt gì". - "Nó xứng đáng phải đuổi đi khỏi đất nước"
- "Kẻ ấy chính là mày, mày sẽ bị xử tội như mày nói".
Sau khi hình phạt được thi hành, Hoàng tử cưới nàng công
chúa làm vợ và họ trị vì đất nước trong hòa bình và hạnh phúc.
Các em được nghe một câu chuyện về cuộc đời. Những người
hiền hậu, tốt bụng sẽ có hạnh phúc, còn những kẻ có tâm địa xấu xa
sẽ bị trừng phạt.
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Cây củ cải
Ngày xưa có hai anh em đều đi lính. Anh thì giàu, em thì
nghèo. Người em không muốn sống nghèo khổ mãi, bỏ lính về làm
nông dân. Anh cuốc một vạt đất ở đầu cánh đồng và gieo hạt củ cải.
Mầm mọc, củ lớn dần, lớn dần, lớn không ngừng đến mức có thể coi
là củ cải chúa, chưa bao giờ từng có củ cải nào to như vậy và cũng
sẽ chẳng bao giờ sẽ thấy củ cải to như thế. Cuối cùng, nó thành một
củ cải khổng lồ, một mình nó có thể chiếm hết một xe chở và phải
gióng hai con bò để kéo xe. Bác nông dân không biết dùng củ cải ấy
làm gì và tự hỏi không biết đây là phúc hay là họa. Rút cuộc, bác tự
bảo: "Nếu mang bán thì người ta sẽ trả bao nhiêu? Nếu ăn củ cải
thì ăn những củ nhỏ cũng đến thế thôi. Tốt nhất là ta mang tiến
vua để tỏ lòng thành kính".
Bác khiêng củ cải lên một cái xe, gióng hai con bò, dắt xe đến
cung nhà vua để dâng vua.
- Cái vật kỳ lại này là cái gì vậy?" - Vua phán - Ta đã từng trông thấy
nhiều vật lạ, nhưng chưa thấy một vật khổng lồ như thế này, không biết mọc từ
cái hạt giống gì ra? Hoặc giả ngươi là phù thủy và đã đích thân làm ra củ này?
- Tâu bệ hạ, không phải thế đâu ạ - Bác nông dân trả lời - Thần
là một anh lính nghèo nuôi thân không xong nên phải thôi lính về
làm đất. Thần có một người anh giàu có, bệ hạ biết nhiều về anh ấy.
Nhưng thần thì không có gì, nên bị mọi người ruồng bỏ.
Nhà vua thương hại bác nông dân và phán:
- Nhà ngươi sẽ không nghèo đói nữa, ta sẽ ban cho ngươi của
cải để nhà ngươi cũng giàu như anh nhà ngươi.
Vua ban cho bác nông dân rất nhiều vàng, ruộng nương, đồng
cỏ và gia súc, đến mức bác trở nên rất giàu, của cải người anh
không sánh được.
Khi người anh biết là em trở nên giàu có nhờ có một cây củ cải,
thì anh ta ghen tức và nghĩ nát óc ra tìm một cách để cũng gặp may
như em. Anh láu hơn em, mang biếu nhà vua vàng và ngựa, nghĩ
rằng vua sẽ ban cho anh nhiều của cải hơn em. Nếu em ta chỉ biếu
nhà vua có một củ cải mà được vua ban cho chừng nấy của thì vua
sẽ ban cho ta biết mấy để đáp lại những tặng phẩm quý giá! Vua
nhận đồ dâng của anh và phán là không có gì quí hơn và hiếm hơn
là cây củ cải. Vua bèn cho anh cây củ cải to tướng. Người anh đành
chất cây củ cải của người em lên một cái xe rồi kéo về nhà.
Về đến nhà, người anh không biết trút cơn tức giận lên đầu ai
cho tới khi nẩy ra ý nghĩ độc ác là giết em. Anh thuê những kẻ giết
người và cho chúng nấp ở một nơi. Anh đến gặp em và bảo: "Chú ạ,
tôi biết nơi cất giấu một kho vàng, chúng ta cùng đi lấy rồi chia
nhau". Người em đi với anh, không nghi ngờ gì cả. Khi hai người đi
tới nơi đã định, những kẻ giết người nhảy xổ vào người em, trói em
lại và chuẩn bị treo cổ lên một cái cây. Khi chúng đang làm việc đó
thì ở xa có tiếng hát và tiếng vó ngựa vọng lại. Chúng sợ hãi nhét
người bị bắt - đầu lộn ngược - vào một cái bao, treo lên một cái cây
rồi chạy trốn. Ở trên cây, người em giãy giụa cho tới khi cái bao bị
thủng một lỗ, đầu lọt ra. Người đi tới chẳng qua là một cậu sinh
viên đi lang thang, một thanh niên đang vừa ruổi ngựa trong rừng
và hát vang lên. Người em ở trên cây thấy có người vừa qua bên
dưới bèn kêu to:
- Cậu đến thật đúng lúc!
Cậu sinh viên ngó quanh, không biết tiếng nói từ đâu ra. Cuối
cùng cậu nói:
- Ai gọi tôi thế?
Từ ngọn cây, người em trả lời:
- Hãy ngẩng lên mà nhìn. Tôi ở trên cao, trong một cái túi dạy
khôn. Trong một thời gian ngắn, tôi đã học được không biết bao
nhiêu điều hay; những điều học ở trường chẳng thấm vào đâu. Tôi
học sắp xong rồi, tôi sẽ xuống và tôi sẽ giỏi hơn mọi người trên thế
gian này. Tôi thông thiên văn, biết hướng đi của gió, cát ở ngoài
biển, cách chữa mọi bệnh tật, công dụng của cây cỏ, các loại chim và
các loại đá. Nếu anh chui vào đây, anh sẽ thấy ở trong túi dạy khôn
này hạnh phúc biết chừng nào.
Cậu sinh viên nghe thấy thế ngạc nhiên vô cùng và nói:
- Quả là trời phù hộ cho tôi được gặp bác. Bác làm ơn cho tôi
vào trong túi một lúc có được không?
Người em trả lời như có vẻ chần chừ: "Tôi cũng muốn để anh
chui vào một tí nếu anh đưa tôi một ít tiền và ăn nói tử tế, nhưng
anh hãy đợi một giờ nhé. Còn có điều tôi muốn học thêm đã".
Cậu sinh viên chờ một chốc, sốt ruột năn nỉ xin người em cho
chui vào vì anh nóng lòng muốn học khôn. Người em giả bộ như
cũng chiều ý cậu và nói:
- Muốn để tôi bước ra khỏi cái nhà dạy khôn này, anh hãy hạ
túi dọc theo cái dây thừng. Sau đó sẽ đến lượt anh vào".
Cậu sinh viên hạ người em xuống, mở túi cho anh chui ra. Sau
đó, cậu kêu lên:
- Giờ thì hãy kéo tôi lên cao nhanh lên!"
Rồi anh chui vào trong túi. "Hượm đã!" - người em nói, - "như
thế chưa được". Anh đẩy cậu sinh viên đầu lộn ngược vào túi, buộc
miệng túi lại rồi kéo lên cây. Anh đẩy cho cái túi đu đưa trên không
rồi hỏi:
- Cậu thấy thế nào hở cậu? Cậu thấy đấy, cậu cảm thấy khôn
ngoan đang đến đấy, cậu đã học được nhiều. Hãy cứ nằm im, cho
đến khi nào khôn ngoan hơn."
Sau đó, người em nhảy lên con ngựa của anh sinh viên và đi.
Được một giờ, anh cho người đến tháo cho cậu sinh viên xuống.
“Ở hiền gặp lành" là sợi chỉ đỏ xuyên suốt nội dung của các
truyện cổ tích. Trong câu chuyện trên ca ngợi người em sống thật
thà thì luôn gặp may mắn, hạnh phúc. Người anh tham lam dù có
cố gắng đến đâu cũng không bao giờ đạt được mục đích.
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Jôrinđơ và Jôgigơn
Ngày xưa, có một bà già sống một mình trong một tòa lâu đài
cổ giữa một khu rừng bao la, rậm rạp. Đó là một mụ phù thủy cừ
khôi. Ban ngày, mụ hóa thành mèo hoặc cú vọ. Đến chiều tối, mụ
lại hiện nguyên hình người. Mụ có tài dụ dỗ muông thú để giết lấy
thịt nấu nước ăn. Quanh lâu đài một trăm bước, ai đi đến tự dưng
đứng sững tại chỗ, chỉ bước đi được khi mụ phù thủy cho phép. Khi
một cô gái trong sạch lọt vào cái vòng ma quái đó thì mụ sẽ hóa
phép biến thành chim, mụ đem nhốt vào lồng rồi đặt lồng vào một
phòng của lâu đài.
Có một cô gái tên là Jôrinđơ, đẹp hơn tất cả các cô gái khác. Cô
đã hứa hôn với chàng trai tên là Jôringơn. Đôi trai gái sống những
ngày chờ cưới và quấn quít bên nhau.
Để được chuyện trò thoải mái, một hôm họ vào rừng dạo chơi.
- Em cẩn thận chớ đến quá gần lâu đài! - Jôringơn dặn.
Buổi chiều thật là đẹp. Mặt trời còn chiếu nắng qua các thân
cây thành các vệt sáng trên nền trời xanh thẫm của rừng. Chim gáy
gù rầu rĩ trên cây sồi.
Jôrinđơ thỉnh thoảng lại khóc lóc, ngồi dưới ánh nắng mà than
vãn, Jôringơn cũng than vãn. Họ xúc động như chết đến nơi. Họ
nhìn quanh, nhưng lại không tìm ra đường về nhà. Mặt trời đã
khuất một nửa sau rặng núi. Đúng lúc đó Jôringơn nhìn qua bụi
rậm thấy các bức tường cổ của lâu đài hiện ra sát bên mình. Anh sợ
hãi tái nhợt như người chết. Jôrinđơ hát:
- Con chim bé nhỏ của tôi đeo chiếc nhẫn vàng.
Rên rỉ buồn thảm, nó khóc than cái chết của con chim bồ câu
Jôringơn quay lại nhìn Jôrinđơ thì thấy cô đã hóa thành một
con chim họa mi đang hót. Một con cú có đôi mắt như lửa đỏ bay
quanh cô ba lần và kêu ba lần: "Hú! Hú! Hú!" Jôringơn không nhúc
nhích được. Anh đứng nguyên tại chỗ như phỗng đá, không khóc
được. Mặt trời đã lặn. Con cú bay vào bụi rậm và ngay sau đó một
mụ già gù từ trong bụi bước ra. Mụ gày gò, vàng vọt, có đôi mắt đỏ
rực, cái mũi khoằm và nhọn chấm sát cằm. Mụ làu nhàu, bắt chim
họa mi để lên tay mang đi. Jôringơn không nói gì được, không động
đậy được. Chim họa mi không còn ở đấy nữa. Cuối cùng, mụ già trở
lại nói giọng âm u: "Ta chào ngươi, đồ ngu. Khi nào trăng chiếu
sáng cái rổ nhỏ này là lúc xéo đi ngay, đồ ngu ạ". Thế là Jôringơn
thoát. Anh quỳ xuống chân mụ già, van xin mụ hãy tha cho
Jôrinđơ. Mụ trả lời là không bao giờ anh lại nhìn thấy mặt cô nữa,
rồi mụ đi. Anh gào khóc và rên rỉ nhưng vô ích: "Trời ơi! Cái gì sẽ
đến với tôi đây?". Jôringơn rời chỗ đó đến một làng quê xa lạ. Một
thời gian dài, anh chăn cừu. Nhiều lần anh đi quanh lâu đài, nhưng
không lại gần quá.
Một đêm, anh ngủ mê thấy mình được một bông hoa đỏ như
máu, ở giữa có một hạt ngọc to và đẹp vô cùng. Anh hái bông hoa,
tiến đến lâu đài. Hoa đụng vào cái gì thì cái đó liền thoát khỏi phù
phép. Anh cũng mơ thấy nhờ có bông hoa, anh lấy lại được Jôrinđơ.
Sáng sớm ngủ dậy, anh ra đi, trèo đèo, lội suối, đi tìm bông hoa như
đã mơ thấy. Anh đi tám ngày, sáng sớm ngày thứ chín, anh tìm
thấy bông hoa đỏ như máu. Một giọt sương to, đẹp như hạt ngọc đẹp
nhất trần gian, nằm ở giữa nhị hoa. Anh cầm hoa đi suốt ngày đêm
tới lâu đài. Khi còn cách một trăm bước, anh không bị đứng bất
động. Anh tiếp tục đi đến cửa lâu đài. Lòng tràn ngập vui sướng,
anh chạm bông hoa vào cửa. Cửa mở toang ra. Đi qua sân, anh vào
lâu đài. Anh lắng nghe chim hót một lúc. Rồi anh đi về phía có chim
hót. Anh tìm ra căn phòng mà ở đó mụ phù thủy đang cho chim ăn;
chim bị nhốt trong bảy nghìn chiếc lồng nhỏ. Khi mụ nhận ra
Jôringơn, mụ nổi giận, mụ giận dữ kêu thét ầm ĩ, phun thuốc độc
và mật đắng vào anh, nhưng mụ không tiến lại gần anh một
khoảng cách là hai bước. Anh không để ý gì đến mụ, tiếp tục đi
nhìn các lồng có nhốt chim. Anh thấy hàng trăm con chim họa mi.
Làm thế nào tìm được ra Jôrinđơ trong số chim đó? Trong khi chú ý
nhìn chim, anh nhận thấy mụ già rón rén đi lấy một cái lồng nhốt
một con chim rồi bước về phía cửa.
Anh nhẩy bổ lại gần mụ, chạm bông hoa vào cái lồng và mụ ta.
Thế là phép phù thủy mụ hết thiêng! Jôrinđơ hiện ra đứng đó, ôm
cổ anh, vẫn đẹp như xưa. Rồi anh giúp cho tất cả mọi con chim hoàn
nguyên hình thành thiếu nữ. Anh cùng Jôrinđơ về nhà và sống
hạnh phúc cho đến khi đầu bạc răng long.
Câu chuyện ca ngợi tình yêu bất diệt: tình yêu sẽ chiến thắng
tất cả những thế lực xấu xa nhất. Đồng thời kẻ gây tội ác bao giờ
cũng bị trừng trị thích đáng.
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Lên thiên đàng
Ngày xưa, một bác bần nông có tuổi và ngoan đạo chết. Bác đến
trước cổng Trời. Một lãnh chúa rất giàu, chết cùng một lúc với bác,
cùng đến cổng Trời lúc bác đến. Thánh Pêtrux mang chìa khóa đến
mở cửa đón ông ta vào. Hình như thánh không thấy bác bần nông
nên đóng sập cửa lại. Đứng bên ngoài, bác bần nông nghe rất rõ
tiếng đàn hát đón chào lãnh chúa lên trời. Cuối cùng yên tĩnh trở
lại.
Thánh Pêtrux đến, mở cửa Trời cho bác nông dân vào. Bác
tưởng là cũng sẽ có đàn hát đón chào. Nhưng bốn bề lặng ngắt. Dĩ
nhiên cuộc tiếp đón thân mật; các thiên thần ra đón bác. Nhưng
không có ca hát. Bác bần nông hỏi Thánh Pêtrux tại sao người ta
không ca hát đón bác như đón vị lãnh chúa. Bác thấy hình như ở
trên trời cũng bất công như ở trần gian.
Thánh Pêtrux bèn trả lời:
- Không phải đâu, chúng tôi quý bác như bất cứ một người nào
khác. Bác sẽ được hưởng thú vui trên trời này như vị lãnh chúa
giàu có kia. Nhưng bác phải hiểu là những người bần nông như bác
thì ngày nào cũng có người lên trời. Nhưng lãnh chúa giàu có thì
hàng trăm năm họa có một người.
Câu chuyện muốn nói lên rằng: ở bất cứ đâu cũng có người tốt
kẻ xấu cho dù đó là thiên đàng, nơi mà mọi người quan niệm ở đó có
nhiều hạnh phúc, công bằng nhất.
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Hênxen và Grêten
Ngày xưa có hai vợ chồng một bác tiều phu nghèo khó, sống ở
ven một khu rừng lớn. Gia đình có hai con. Con trai tên là Hênxen,
con gái tên là Grêten. Nhà không đủ ăn. Một năm, trời làm đói
kém, miếng bánh hàng ngày cũng chẳng có. Tối hôm ấy, chồng nằm
trằn trọc mãi, thở dài bảo vợ:
- Chả biết rồi sao đây? Lương thực cạn rồi, lấy gì nuôi con?
Đói khổ khiến người mẹ đâm ra nhẫn tâm. Hết đường xoay xở,
vợ bảo chồng:
- Thầy nó ạ, biết sao đây! Ngày mai, sớm tinh mơ, tôi với nhà
đưa chúng vào rừng rậm, đốt lửa lên, cho mỗi đứa một mẩu bánh
rồi bỏ chúng đấy mà đi làm. Chúng không biết đường mà về, thế là
rảnh.
Chồng đáp:
- Nhà nó ạ, tôi chịu không làm thế được đâu. Nỡ nào đem bỏ
con vào rừng cho thú đói ăn thịt!
- Thầy nó thật là điên. Không làm thế thì chết đói cả bốn mạng,
chỉ còn việc bào gỗ đóng săng mà thôi.
Người vợ lèo nhèo mãi, kỳ đến lúc chồng phải làm theo ý mình.
Chồng nói:
- Nhưng tôi vẫn thương xót chúng nó lắm!
Hai đứa trẻ đói quá không ngủ được, nghe được hết. Grêten
khóc sướt mướt, bảo Hênxen:
- Anh em mình chết đến nơi rồi.
Hênxen đáp:
- Em đừng lo buồn, anh sẽ có cách thoát chết.
Chờ lúc bố mẹ ngủ rồi, nó dậy mặc áo, mở cửa, lén ra ngoài.
Trăng sáng. Sỏi trắng ở trước nhà lóng lánh như bạc. Hênxen nhặt
sỏi bỏ đầy túi áo, rồi về nhà bảo Grêten:
- Em ơi, cứ yên trí
Anh em nhà GRIM
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động
Nguồn: SachMoi.Net
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Mục lục
Nàng công chúa chăn ngỗng
Cây củ cải
Jôrinđơ và Jôgigơn
Lên thiên đàng
Hênxen và Grêten
Chú Hanh lười biếng
Con quỷ và bà nó
Ả Grêten thông minh
Bà lão chăn ngỗng
Con mèo đi hia
Cô bé quàng khăn đỏ
Chú bé tí hon
Cô bé lọ lem
Nàng Bạch Tuyết
Ngôi nhà trong rừng
Đứa con vàng
Cô bé hai mắt
Ba cô chị
Con quỷ nhốt trong lọ
Vua trộm
Con rắn trắng
Người đầy tớ trung thành
Cuộc ngao du của tí hon
Mười hai người thợ săn
Ba sợi tóc vàng của quỷ
Mèo làm thân với chuột
Hai anh em
Người thợ săn tài giỏi
Chọn vợ
Gã thợ xay nghèo khó
Hanxơ sắt
Hai ông cháu
Sáu con thiên nga
Chú bé nghèo dưới nấm mồ
Những người khôn
Chú Hanxơ sung sướng
Người da gấu
Bác nông dân và con quỷ
Cỗ quan tài thủy tinh
Quà của người tí hon
Sợi vứt đi
Một đòn chết bảy
Con nam ở ao
Sáu người hầu
Đồ bỏ xó
Vua quạ
Ngọn đèn xanh
Thỏ và nhím
Hoàng Anh và gấu
Con ngỗng vàng
Học rùng mình
Anh và em gái
Ba bà kéo sợi
Thần chết đỡ đầu
Vua núi vàng
Ba người lùn trong rừng
Rau lừa
Ong chúa
Bảy con quạ
Nước trường sinh
Chim ưng thần
Bạch Tuyết và Hồng Hoa
Đôi giày ủng da trâu
Chim sơn ca
Anh chàng đánh trống
Ba anh em
Vợ chồng người đánh cá
Đóa hồng
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Nàng công chúa chăn ngỗng
Ngày xưa có một bà hoàng hậu tuổi đã cao. Đức vua chết đã
lâu. Bà có một cô con gái rất xinh đẹp. Khi lớn lên, nàng được hứa
hôn với một chàng Hoàng tử con vua một nước xa xôi. Đến ngày tổ
chức lễ cưới, nàng công chúa sửa soạn đi nước xa lạ. Mẹ nàng gói
ghém cho nàng những vật quí giá: đồ trang sức, vàng, bạc, cốc, châu
ngọc, tóm lại là tất cả những gì xứng đáng làm của hồi môn cho một
công chúa, vì mẹ nàng rất mực thương nàng. Mẹ nàng gửi gắm
nàng cho một thị nữ có nhiệm vụ dẫn nàng đi đến chỗ ở người
chồng chưa cưới. Mỗi người cưỡi một con ngựa. Ngựa công chúa cưỡi
tên là Phalađa, biết nói. Đến lúc chia tay, bà hoàng vào trong phòng
ngủ, lấy một con dao nhỏ trích ngón tay, để chảy ba giọt máu. Bà
cho máu thấm xuống một cái khăn trắng nhỏ, đưa cho cô gái và
dặn: "Con thân yêu, con hãy giữ gìn cẩn thận cái khăn này, nó sẽ có
ích cho con trên đường đi".
Hai mẹ con buồn bã từ biệt nhau. Công chúa áp cái khăn lên
ngực, nhảy lên yên ngựa để đi đến nơi ở của người yêu. Sau khi đã
đi một tiếng, cô cảm thấy khát khô họng, bèn bảo thị nữ: "Em hãy
xuống ngựa, lấy cốc của ta múc nước suối kia và mang lại đây cho
ta, ta khát nước lắm" - "Nếu cô khát, thị nữ trả lời, thì hãy tự nhảy
xuống, rồi vươn người ra trên mặt nước mà uống. Tôi không phải là
đầy tớ của cô".
Công chúa khát lắm, bèn xuống ngựa, cúi xuống dòng nước
suối để uống nước. Nàng không dám uống nước bằng cốc vàng. "Trời
ơi!" nàng kêu to. Ba giọt máu bảo cô: "Nếu mẹ cô biết sự tình thế
này, thì hẳn tim bà sẽ tan nát trong ngực". Nhưng công chúa là
người can đảm. Nàng không nói gì và lại nhảy lên ngựa. Ngựa phi
được vài dặm. Trời thì nóng nực, chẳng mấy chốc nàng lại khát
nước. Tới một con sông, nàng bảo thị nữ: "Em hãy xuống ngựa và
cho ta uống nước bằng cái cốc vàng". Cô đã quên đứt những lời độc
ác của thị nữ. Nhưng thị nữ lại trả lời ngạo mạn hơn: "Nếu cô khát
thì tự đi uống nước một mình, tôi không phải là đầy tớ của cô".
Công chúa khát quá, nhảy xuống ngựa, cúi xuống dòng nước chảy
xiết, khóc và kêu lên: "Trời ơi!" Ba giọt máu liền đáp lại: "Nếu mẹ cô
biết sự tình thế này, thì hẳn tim bà tan nát trong ngực". Trong khi
cô cúi xuống để uống thì cái khăn có thấm ba giọt máu, tuột khỏi
ngực cô và trôi theo dòng nước mà cô không hay biết, vì lúc đó cô rất
sợ hãi. Thị nữ thì lại trông thấy hết và nó rất vui mừng từ giờ trở đi
công chúa sẽ bị nó trả thù. Từ lúc đánh mất ba giọt máu, công chúa
trở nên yếu đuối, không đủ sức tự vệ nữa. Khi nàng định trèo lên
con ngựa Phalađa thì thị nữ bảo: "Tôi sẽ cưỡi con Phalađa, còn cô,
cô hãy cưỡi con ngựa tồi của tôi". Công chúa đành làm như vậy.
Tiếp đó thị nữ ra lệnh, lời lẽ gay gắt, bắt nàng phải cởi quần áo
hoàng cung ra và mặc quần áo của nó vào.
Cô lại phải thề với trời đất là khi đến cung điện sẽ không nói lộ
ra. Nếu cô không chịu thề thì nó sẽ giết cô tại chỗ. Nhưng con
Phalađa đã quan sát tất cả và ghi nhớ tất cả.
Thị nữ cưỡi con Phalađa, còn công chúa thì cưỡi con ngựa tồi.
Nó lại tiếp tục đi, cuối cùng đến lâu đài nhà vua. Ở đấy, mọi người
rất vui mừng khi họ tới, và Hoàng tử vội chạy tới tận nơi đón họ, đỡ
thị nữ xuống ngựa, vì tưởng rằng đó là vợ chưa cưới của mình. Thị
nữ đi lên bậc thềm lâu đài, còn nàng công chúa thì phải đứng lại
ngoài sân. Vua cha nhìn ra, qua cửa sổ thấy nàng duyên dáng và
tuyệt đẹp. Người vào trong cung hỏi cô gái được coi là vợ chưa cưới
của Hoàng tử xem cô gái đứng ngoài sân là ai. "Tâu vua cha, con đã
gặp cô gái đó trên đường đi và con đưa cô ta đi cùng để đỡ lẻ loi một
mình. Xin vua cha cho cô ta làm việc để cô ta khỏi phải vô công rồi
nghề".
Nhưng vua cha không có việc gì giao cho cô làm cả. Người bảo:
"Ở ngoài kia, ta có một anh chàng chăn ngỗng, hãy để cô ta giúp
việc vậy. Chàng trai tên là Cuốc. Vợ chưa cưới của Hoàng tử phải
giúp anh chăn ngỗng.
Ít lâu sau, vợ chưa cưới giả tâu với hoàng tử: "Chàng thân yêu
ơi, em muốn một điều, chàng hãy làm vui lòng em". Hoàng tử nói:
"Được thôi!"
- Chàng hãy cho gọi người thợ lột da đến đập chết con ngựa em
đang cưỡi đến đây, vì trong khi đi đường nó làm em bực tức".
Thật ra thì nó sợ con ngựa kể lại cách nó đã đối xử với công
chúa. Đến lúc con ngựa trung thành Phalađa phải chết thì công
chúa được tin. Nàng hứa với người thợ lột da là sẽ bí mật biếu anh
một đồng tiền bằng bạc nếu anh giúp nàng một việc nhỏ. Trong đô
thị có một cái cổng to rất tối, hàng ngày, sớm tối nàng phải dẫn đàn
ngỗng đi qua. Nàng xin người thợ lột da hãy đóng đanh treo đầu
con Phalađa vào cái cổng ấy để nàng có thể luôn luôn trông thấy nó.
Người thợ lột da hứa sẽ làm và bác đóng chặt đanh treo đầu ngựa
vào dưới cái cổng tối om.
Sáng sớm, khi cùng Cuốc đi qua cổng, cô bảo cái đầu:
"Ôi, Phalađa, mày bị treo ở đây ư!"
Cái đầu trả lời:
"Ôi! Nàng công chúa của tôi, nàng qua đây ư! Nếu mẹ nàng biết
nông nỗi này tim mẹ sẽ vỡ tan tành"
Lặng lẽ, cô đi khỏi đô thị, dẫn đàn ngỗng ra cánh đồng. Đến
đồng cỏ, cô ngồi xuống và rũ tóc ra. Tóc cô óng ánh như vàng
nguyên chất và Cuốc rất thích nhìn mớ tóc ấy lóe sáng. Anh muốn
nhổ vài sợi tóc. Công chúa bèn nói:
"Ta khóc đây, ta khóc đây! Hỡi làn gió nhẹ. Hãy cuốn cái mũ
của Cuốc đi! Anh ta sẽ chạy theo cái mũ cho đến khi nào tóc ta chải
và tết xong".
Tức thì gió thổi mạnh cuốn đi cái mũ của Cuốc. Anh ta chạy
theo ngay. Khi anh trở về thì công chúa đã chải đầu xong và anh
không nhổ được sợi tóc nào. Anh rất bực và không nói năng gì với cô
nữa. Họ lại tiếp tục chăn ngỗng đến chiều, rồi cùng về nhà.
Sáng sớm hôm sau, khi lùa ngỗng qua cổng, cô gái nói:
"Ôi, Phalađa, mày bị treo ở đây ư!"
Cái đầu trả lời:
"Ôi! Nàng công chúa của tôi, nàng qua đây ư! Nếu mẹ nàng biết
nông nỗi này, tim mẹ sẽ vỡ tan tành"
Đi ra khỏi đô thị, cô lại ngồi trên đồng cỏ và lại rũ tóc ra chải.
Cuốc muốn nắm lấy mớ tóc. Cô vội vàng nói:
"Ta khóc đây, ta khóc đây! Hỡi làn gió nhẹ, hãy cuốn cái mũ
của Cuốc đi! Anh ta sẽ chạy theo cái mũ cho đến khi nào tóc ta chải
và tết xong".
Gió nổi lên, cuốn cái mũ đi. Cuốc phải chạy theo. Khi anh trở
về thì công chúa đã chải đầu xong từ lâu và anh không nắm được
mớ tóc ấy. Và rồi hai người lại cùng chăn ngỗng đến chiều.
Nhưng chiều hôm ấy, về tới nhà, Cuốc đến gặp vua cha và tâu:
"Kính thưa hoàng thượng, con không thể chăn ngỗng cùng cô gái
này nữa" - "Tại sao vậy?", vua hỏi. "Suốt ngày, cô ta làm con bực
mình!" - Vua cha bảo anh kể lại sự việc đã xảy ra. Cuốc nói: "Buổi
sáng, chúng con dẫn đàn ngỗng qua cái cổng tối om, ở đấy có một
cái đầu ngựa treo trên tường. Cô ta nói với nó: "Ôi, Phalađa, mày bị
treo ở đây ư!" Cái đầu trả lời: "Ôi! Nàng công chúa của tôi, nàng
qua đây ư! Nếu mẹ nàng biết nông nỗi này tim mẹ sẽ vỡ tan tành"
Và Cuốc kể các sự việc đã xảy ra ở cánh đồng chăn ngỗng và tại
sao anh ta lại phải chạy theo cái mũ.
Vua cha dặn anh ta ngày hôm sau cứ đi chăn ngỗng như
thường lệ. Sáng sớm ngài thân chinh đến dưới cái cổng tối om và
nghe được những câu cô gái nói với cái đầu Phalađa. Ông theo ra
cánh đồng và nấp vào một bụi cây. Chính mắt ngài trông thấy anh
thanh niên và cô gái lùa ngỗng thế nào và sau một lúc, cô gái ngồi
xuống gỡ mớ tóc vàng lóe sáng. Rồi cô lại nói:
"Ta khóc đây, ta khóc đây! Hỡi làn gió nhẹ, hãy cuốn cái mũ
của Cuốc đi! Anh ta sẽ chạy theo cái mũ cho đến khi nào tóc ta chải
và tết xong".
Một cơn gió thổi mạnh, cuốn cái mũ đội đầu của Cuốc đi. Anh
phải chạy theo rất xa. Cô gái chăn ngỗng chải tóc và cuốn thành
từng búp. Vua cha nhìn thấy tất cả. Không ai nhận ra ngài khi ngài
rời khỏi đó. Chiều đến, cô gái về nhà, ngài cho gọi cô đến và hỏi tại
sao cô lại làm như thế. "Tâu bệ hạ, con không thể nói được", - cô trả
lời. - "Con không thể kể nỗi khổ của con với bất cứ ai trên thế gian
này, con đã thề như vậy để khỏi bị người ta giết".
Vua cha cô ép cô nói, nhưng ngài không biết được gì thêm bèn
nói: "Nếu con không muốn nói với ta, thì con hãy kể nỗi khổ của con
với cái bếp lò này". Rồi ông bỏ đi. Cô đến ngồi gần cái bếp lò, than
khóc, thổ lộ tâm can:
"Ta ngồi đây, bị cả thế gian ruồng bỏ, dù ta là con vua. Một tên
thị nữ độc ác đã áp chế ta, bắt ta đổi cho nó quần áo hoàng cung. Nó
thay thế ta để làm vợ chưa cưới của người yêu ta, và ta bắt buộc
phải làm công việc bình thường của người chăn ngỗng. Nếu mẹ ta
biết nông nỗi này, tim bà sẽ tan nát".
Vua cha đứng ở phía tường bên kia gần ống thông hơi, ngài đã
nghe thấy hết. Ngài trở về và gọi cô hãy rời cái lò đến gặp ngài.
Người ta mang đến cho cô quần áo hoàng cung, cô mặc vào đẹp
như là có phép lạ. Vua cha cho gọi con trai đến và bảo cho con biết
về cô vợ chưa cưới giả mạo. Cô người yêu thật đứng trước chàng,
đấy là cô gái chăn ngỗng.
Hoàng tử thấy cô rất đẹp và phúc hậu nên lòng tràn ngập niềm
vui. Một bữa tiệc được sửa soạn để mời tất cả các bạn bè thân
thuộc. Hoàng tử và công chúa ngồi ở đầu bàn, trước mặt họ là con
thị nữ. Nó bị chỗáng ngợp và không nhận ra cô chủ trang sức lộng
lẫy. Khi họ đang ăn uống vui vẻ, vua cha ra một câu đố cho thị nữ.
Nó phải trả lời là một người đàn bà lừa dối chủ thì sẽ bị xử tội như
thế nào. Ngài kể các sự việc đã xảy ra và hỏi nó: "Như thế sẽ xứng
đáng với hình phạt gì". - "Nó xứng đáng phải đuổi đi khỏi đất nước"
- "Kẻ ấy chính là mày, mày sẽ bị xử tội như mày nói".
Sau khi hình phạt được thi hành, Hoàng tử cưới nàng công
chúa làm vợ và họ trị vì đất nước trong hòa bình và hạnh phúc.
Các em được nghe một câu chuyện về cuộc đời. Những người
hiền hậu, tốt bụng sẽ có hạnh phúc, còn những kẻ có tâm địa xấu xa
sẽ bị trừng phạt.
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Cây củ cải
Ngày xưa có hai anh em đều đi lính. Anh thì giàu, em thì
nghèo. Người em không muốn sống nghèo khổ mãi, bỏ lính về làm
nông dân. Anh cuốc một vạt đất ở đầu cánh đồng và gieo hạt củ cải.
Mầm mọc, củ lớn dần, lớn dần, lớn không ngừng đến mức có thể coi
là củ cải chúa, chưa bao giờ từng có củ cải nào to như vậy và cũng
sẽ chẳng bao giờ sẽ thấy củ cải to như thế. Cuối cùng, nó thành một
củ cải khổng lồ, một mình nó có thể chiếm hết một xe chở và phải
gióng hai con bò để kéo xe. Bác nông dân không biết dùng củ cải ấy
làm gì và tự hỏi không biết đây là phúc hay là họa. Rút cuộc, bác tự
bảo: "Nếu mang bán thì người ta sẽ trả bao nhiêu? Nếu ăn củ cải
thì ăn những củ nhỏ cũng đến thế thôi. Tốt nhất là ta mang tiến
vua để tỏ lòng thành kính".
Bác khiêng củ cải lên một cái xe, gióng hai con bò, dắt xe đến
cung nhà vua để dâng vua.
- Cái vật kỳ lại này là cái gì vậy?" - Vua phán - Ta đã từng trông thấy
nhiều vật lạ, nhưng chưa thấy một vật khổng lồ như thế này, không biết mọc từ
cái hạt giống gì ra? Hoặc giả ngươi là phù thủy và đã đích thân làm ra củ này?
- Tâu bệ hạ, không phải thế đâu ạ - Bác nông dân trả lời - Thần
là một anh lính nghèo nuôi thân không xong nên phải thôi lính về
làm đất. Thần có một người anh giàu có, bệ hạ biết nhiều về anh ấy.
Nhưng thần thì không có gì, nên bị mọi người ruồng bỏ.
Nhà vua thương hại bác nông dân và phán:
- Nhà ngươi sẽ không nghèo đói nữa, ta sẽ ban cho ngươi của
cải để nhà ngươi cũng giàu như anh nhà ngươi.
Vua ban cho bác nông dân rất nhiều vàng, ruộng nương, đồng
cỏ và gia súc, đến mức bác trở nên rất giàu, của cải người anh
không sánh được.
Khi người anh biết là em trở nên giàu có nhờ có một cây củ cải,
thì anh ta ghen tức và nghĩ nát óc ra tìm một cách để cũng gặp may
như em. Anh láu hơn em, mang biếu nhà vua vàng và ngựa, nghĩ
rằng vua sẽ ban cho anh nhiều của cải hơn em. Nếu em ta chỉ biếu
nhà vua có một củ cải mà được vua ban cho chừng nấy của thì vua
sẽ ban cho ta biết mấy để đáp lại những tặng phẩm quý giá! Vua
nhận đồ dâng của anh và phán là không có gì quí hơn và hiếm hơn
là cây củ cải. Vua bèn cho anh cây củ cải to tướng. Người anh đành
chất cây củ cải của người em lên một cái xe rồi kéo về nhà.
Về đến nhà, người anh không biết trút cơn tức giận lên đầu ai
cho tới khi nẩy ra ý nghĩ độc ác là giết em. Anh thuê những kẻ giết
người và cho chúng nấp ở một nơi. Anh đến gặp em và bảo: "Chú ạ,
tôi biết nơi cất giấu một kho vàng, chúng ta cùng đi lấy rồi chia
nhau". Người em đi với anh, không nghi ngờ gì cả. Khi hai người đi
tới nơi đã định, những kẻ giết người nhảy xổ vào người em, trói em
lại và chuẩn bị treo cổ lên một cái cây. Khi chúng đang làm việc đó
thì ở xa có tiếng hát và tiếng vó ngựa vọng lại. Chúng sợ hãi nhét
người bị bắt - đầu lộn ngược - vào một cái bao, treo lên một cái cây
rồi chạy trốn. Ở trên cây, người em giãy giụa cho tới khi cái bao bị
thủng một lỗ, đầu lọt ra. Người đi tới chẳng qua là một cậu sinh
viên đi lang thang, một thanh niên đang vừa ruổi ngựa trong rừng
và hát vang lên. Người em ở trên cây thấy có người vừa qua bên
dưới bèn kêu to:
- Cậu đến thật đúng lúc!
Cậu sinh viên ngó quanh, không biết tiếng nói từ đâu ra. Cuối
cùng cậu nói:
- Ai gọi tôi thế?
Từ ngọn cây, người em trả lời:
- Hãy ngẩng lên mà nhìn. Tôi ở trên cao, trong một cái túi dạy
khôn. Trong một thời gian ngắn, tôi đã học được không biết bao
nhiêu điều hay; những điều học ở trường chẳng thấm vào đâu. Tôi
học sắp xong rồi, tôi sẽ xuống và tôi sẽ giỏi hơn mọi người trên thế
gian này. Tôi thông thiên văn, biết hướng đi của gió, cát ở ngoài
biển, cách chữa mọi bệnh tật, công dụng của cây cỏ, các loại chim và
các loại đá. Nếu anh chui vào đây, anh sẽ thấy ở trong túi dạy khôn
này hạnh phúc biết chừng nào.
Cậu sinh viên nghe thấy thế ngạc nhiên vô cùng và nói:
- Quả là trời phù hộ cho tôi được gặp bác. Bác làm ơn cho tôi
vào trong túi một lúc có được không?
Người em trả lời như có vẻ chần chừ: "Tôi cũng muốn để anh
chui vào một tí nếu anh đưa tôi một ít tiền và ăn nói tử tế, nhưng
anh hãy đợi một giờ nhé. Còn có điều tôi muốn học thêm đã".
Cậu sinh viên chờ một chốc, sốt ruột năn nỉ xin người em cho
chui vào vì anh nóng lòng muốn học khôn. Người em giả bộ như
cũng chiều ý cậu và nói:
- Muốn để tôi bước ra khỏi cái nhà dạy khôn này, anh hãy hạ
túi dọc theo cái dây thừng. Sau đó sẽ đến lượt anh vào".
Cậu sinh viên hạ người em xuống, mở túi cho anh chui ra. Sau
đó, cậu kêu lên:
- Giờ thì hãy kéo tôi lên cao nhanh lên!"
Rồi anh chui vào trong túi. "Hượm đã!" - người em nói, - "như
thế chưa được". Anh đẩy cậu sinh viên đầu lộn ngược vào túi, buộc
miệng túi lại rồi kéo lên cây. Anh đẩy cho cái túi đu đưa trên không
rồi hỏi:
- Cậu thấy thế nào hở cậu? Cậu thấy đấy, cậu cảm thấy khôn
ngoan đang đến đấy, cậu đã học được nhiều. Hãy cứ nằm im, cho
đến khi nào khôn ngoan hơn."
Sau đó, người em nhảy lên con ngựa của anh sinh viên và đi.
Được một giờ, anh cho người đến tháo cho cậu sinh viên xuống.
“Ở hiền gặp lành" là sợi chỉ đỏ xuyên suốt nội dung của các
truyện cổ tích. Trong câu chuyện trên ca ngợi người em sống thật
thà thì luôn gặp may mắn, hạnh phúc. Người anh tham lam dù có
cố gắng đến đâu cũng không bao giờ đạt được mục đích.
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Jôrinđơ và Jôgigơn
Ngày xưa, có một bà già sống một mình trong một tòa lâu đài
cổ giữa một khu rừng bao la, rậm rạp. Đó là một mụ phù thủy cừ
khôi. Ban ngày, mụ hóa thành mèo hoặc cú vọ. Đến chiều tối, mụ
lại hiện nguyên hình người. Mụ có tài dụ dỗ muông thú để giết lấy
thịt nấu nước ăn. Quanh lâu đài một trăm bước, ai đi đến tự dưng
đứng sững tại chỗ, chỉ bước đi được khi mụ phù thủy cho phép. Khi
một cô gái trong sạch lọt vào cái vòng ma quái đó thì mụ sẽ hóa
phép biến thành chim, mụ đem nhốt vào lồng rồi đặt lồng vào một
phòng của lâu đài.
Có một cô gái tên là Jôrinđơ, đẹp hơn tất cả các cô gái khác. Cô
đã hứa hôn với chàng trai tên là Jôringơn. Đôi trai gái sống những
ngày chờ cưới và quấn quít bên nhau.
Để được chuyện trò thoải mái, một hôm họ vào rừng dạo chơi.
- Em cẩn thận chớ đến quá gần lâu đài! - Jôringơn dặn.
Buổi chiều thật là đẹp. Mặt trời còn chiếu nắng qua các thân
cây thành các vệt sáng trên nền trời xanh thẫm của rừng. Chim gáy
gù rầu rĩ trên cây sồi.
Jôrinđơ thỉnh thoảng lại khóc lóc, ngồi dưới ánh nắng mà than
vãn, Jôringơn cũng than vãn. Họ xúc động như chết đến nơi. Họ
nhìn quanh, nhưng lại không tìm ra đường về nhà. Mặt trời đã
khuất một nửa sau rặng núi. Đúng lúc đó Jôringơn nhìn qua bụi
rậm thấy các bức tường cổ của lâu đài hiện ra sát bên mình. Anh sợ
hãi tái nhợt như người chết. Jôrinđơ hát:
- Con chim bé nhỏ của tôi đeo chiếc nhẫn vàng.
Rên rỉ buồn thảm, nó khóc than cái chết của con chim bồ câu
Jôringơn quay lại nhìn Jôrinđơ thì thấy cô đã hóa thành một
con chim họa mi đang hót. Một con cú có đôi mắt như lửa đỏ bay
quanh cô ba lần và kêu ba lần: "Hú! Hú! Hú!" Jôringơn không nhúc
nhích được. Anh đứng nguyên tại chỗ như phỗng đá, không khóc
được. Mặt trời đã lặn. Con cú bay vào bụi rậm và ngay sau đó một
mụ già gù từ trong bụi bước ra. Mụ gày gò, vàng vọt, có đôi mắt đỏ
rực, cái mũi khoằm và nhọn chấm sát cằm. Mụ làu nhàu, bắt chim
họa mi để lên tay mang đi. Jôringơn không nói gì được, không động
đậy được. Chim họa mi không còn ở đấy nữa. Cuối cùng, mụ già trở
lại nói giọng âm u: "Ta chào ngươi, đồ ngu. Khi nào trăng chiếu
sáng cái rổ nhỏ này là lúc xéo đi ngay, đồ ngu ạ". Thế là Jôringơn
thoát. Anh quỳ xuống chân mụ già, van xin mụ hãy tha cho
Jôrinđơ. Mụ trả lời là không bao giờ anh lại nhìn thấy mặt cô nữa,
rồi mụ đi. Anh gào khóc và rên rỉ nhưng vô ích: "Trời ơi! Cái gì sẽ
đến với tôi đây?". Jôringơn rời chỗ đó đến một làng quê xa lạ. Một
thời gian dài, anh chăn cừu. Nhiều lần anh đi quanh lâu đài, nhưng
không lại gần quá.
Một đêm, anh ngủ mê thấy mình được một bông hoa đỏ như
máu, ở giữa có một hạt ngọc to và đẹp vô cùng. Anh hái bông hoa,
tiến đến lâu đài. Hoa đụng vào cái gì thì cái đó liền thoát khỏi phù
phép. Anh cũng mơ thấy nhờ có bông hoa, anh lấy lại được Jôrinđơ.
Sáng sớm ngủ dậy, anh ra đi, trèo đèo, lội suối, đi tìm bông hoa như
đã mơ thấy. Anh đi tám ngày, sáng sớm ngày thứ chín, anh tìm
thấy bông hoa đỏ như máu. Một giọt sương to, đẹp như hạt ngọc đẹp
nhất trần gian, nằm ở giữa nhị hoa. Anh cầm hoa đi suốt ngày đêm
tới lâu đài. Khi còn cách một trăm bước, anh không bị đứng bất
động. Anh tiếp tục đi đến cửa lâu đài. Lòng tràn ngập vui sướng,
anh chạm bông hoa vào cửa. Cửa mở toang ra. Đi qua sân, anh vào
lâu đài. Anh lắng nghe chim hót một lúc. Rồi anh đi về phía có chim
hót. Anh tìm ra căn phòng mà ở đó mụ phù thủy đang cho chim ăn;
chim bị nhốt trong bảy nghìn chiếc lồng nhỏ. Khi mụ nhận ra
Jôringơn, mụ nổi giận, mụ giận dữ kêu thét ầm ĩ, phun thuốc độc
và mật đắng vào anh, nhưng mụ không tiến lại gần anh một
khoảng cách là hai bước. Anh không để ý gì đến mụ, tiếp tục đi
nhìn các lồng có nhốt chim. Anh thấy hàng trăm con chim họa mi.
Làm thế nào tìm được ra Jôrinđơ trong số chim đó? Trong khi chú ý
nhìn chim, anh nhận thấy mụ già rón rén đi lấy một cái lồng nhốt
một con chim rồi bước về phía cửa.
Anh nhẩy bổ lại gần mụ, chạm bông hoa vào cái lồng và mụ ta.
Thế là phép phù thủy mụ hết thiêng! Jôrinđơ hiện ra đứng đó, ôm
cổ anh, vẫn đẹp như xưa. Rồi anh giúp cho tất cả mọi con chim hoàn
nguyên hình thành thiếu nữ. Anh cùng Jôrinđơ về nhà và sống
hạnh phúc cho đến khi đầu bạc răng long.
Câu chuyện ca ngợi tình yêu bất diệt: tình yêu sẽ chiến thắng
tất cả những thế lực xấu xa nhất. Đồng thời kẻ gây tội ác bao giờ
cũng bị trừng trị thích đáng.
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Lên thiên đàng
Ngày xưa, một bác bần nông có tuổi và ngoan đạo chết. Bác đến
trước cổng Trời. Một lãnh chúa rất giàu, chết cùng một lúc với bác,
cùng đến cổng Trời lúc bác đến. Thánh Pêtrux mang chìa khóa đến
mở cửa đón ông ta vào. Hình như thánh không thấy bác bần nông
nên đóng sập cửa lại. Đứng bên ngoài, bác bần nông nghe rất rõ
tiếng đàn hát đón chào lãnh chúa lên trời. Cuối cùng yên tĩnh trở
lại.
Thánh Pêtrux đến, mở cửa Trời cho bác nông dân vào. Bác
tưởng là cũng sẽ có đàn hát đón chào. Nhưng bốn bề lặng ngắt. Dĩ
nhiên cuộc tiếp đón thân mật; các thiên thần ra đón bác. Nhưng
không có ca hát. Bác bần nông hỏi Thánh Pêtrux tại sao người ta
không ca hát đón bác như đón vị lãnh chúa. Bác thấy hình như ở
trên trời cũng bất công như ở trần gian.
Thánh Pêtrux bèn trả lời:
- Không phải đâu, chúng tôi quý bác như bất cứ một người nào
khác. Bác sẽ được hưởng thú vui trên trời này như vị lãnh chúa
giàu có kia. Nhưng bác phải hiểu là những người bần nông như bác
thì ngày nào cũng có người lên trời. Nhưng lãnh chúa giàu có thì
hàng trăm năm họa có một người.
Câu chuyện muốn nói lên rằng: ở bất cứ đâu cũng có người tốt
kẻ xấu cho dù đó là thiên đàng, nơi mà mọi người quan niệm ở đó có
nhiều hạnh phúc, công bằng nhất.
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Hênxen và Grêten
Ngày xưa có hai vợ chồng một bác tiều phu nghèo khó, sống ở
ven một khu rừng lớn. Gia đình có hai con. Con trai tên là Hênxen,
con gái tên là Grêten. Nhà không đủ ăn. Một năm, trời làm đói
kém, miếng bánh hàng ngày cũng chẳng có. Tối hôm ấy, chồng nằm
trằn trọc mãi, thở dài bảo vợ:
- Chả biết rồi sao đây? Lương thực cạn rồi, lấy gì nuôi con?
Đói khổ khiến người mẹ đâm ra nhẫn tâm. Hết đường xoay xở,
vợ bảo chồng:
- Thầy nó ạ, biết sao đây! Ngày mai, sớm tinh mơ, tôi với nhà
đưa chúng vào rừng rậm, đốt lửa lên, cho mỗi đứa một mẩu bánh
rồi bỏ chúng đấy mà đi làm. Chúng không biết đường mà về, thế là
rảnh.
Chồng đáp:
- Nhà nó ạ, tôi chịu không làm thế được đâu. Nỡ nào đem bỏ
con vào rừng cho thú đói ăn thịt!
- Thầy nó thật là điên. Không làm thế thì chết đói cả bốn mạng,
chỉ còn việc bào gỗ đóng săng mà thôi.
Người vợ lèo nhèo mãi, kỳ đến lúc chồng phải làm theo ý mình.
Chồng nói:
- Nhưng tôi vẫn thương xót chúng nó lắm!
Hai đứa trẻ đói quá không ngủ được, nghe được hết. Grêten
khóc sướt mướt, bảo Hênxen:
- Anh em mình chết đến nơi rồi.
Hênxen đáp:
- Em đừng lo buồn, anh sẽ có cách thoát chết.
Chờ lúc bố mẹ ngủ rồi, nó dậy mặc áo, mở cửa, lén ra ngoài.
Trăng sáng. Sỏi trắng ở trước nhà lóng lánh như bạc. Hênxen nhặt
sỏi bỏ đầy túi áo, rồi về nhà bảo Grêten:
- Em ơi, cứ yên trí
 





