Bài hát 'Trang sách em yêu'

Tài nguyên thông tin thư viện

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Video đọc sách trên thư viện Mây - "Ngọt ngất Ngọt ngây"

    Ảnh ngẫu nhiên

    7306335436304.flv Z7255893390500_a6fae421e396d91b7f499fc272fb2e7d.jpg Z7255894892750_4c9359296c180f4c0b32f09f68e188fd.jpg Z7255895517582_eecc75625a04b23a0b5a4bcbca0f0863.jpg Z7255895241468_7d20987c99d28a6386b0066af4a07184.jpg Z7255895366726_bdb25e8e81cf75577935b5d6888543b4.jpg Z7255877432160_6c0e1b91a4111145439f6efbbebad133.jpg Z7255874276373_93ea0cb9886773eeedf752ff69aa3a2b.jpg Kien_thuc_co_ban_TH__Toan_chuyen_dong.jpg Kien_thuc_co_ban_TH__Hinh_hoc.jpg Kien_thuc_co_ban_TH__Cac_dang_Toan_co_loi_van.jpg

    💕💕 NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 43 NĂM NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20/11/1982 - 20/11/2025 💕💕

    20-11 là ngày gì? Nguồn gốc, ý nghĩa của ngày Nhà giáo Việt Nam

    Võ Chí Công tiểu sử

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
    Ngày gửi: 21h:56' 15-11-2024
    Dung lượng: 17.9 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Chịu trách nhiệm xuất bản
    GIÁM ĐỐC - TỔNG BIÊN TẬP
    PGS.TS. PHẠM MINH TUẤN
    Chịu trách nhiệm nội dung
    PHÓ GIÁM ĐỐC - PHÓ TỔNG BIÊN TẬP
    ThS. PHẠM THỊ THINH

    Biên tập nội dung:

    Trình bày bìa:
    Chế bản vi tính:
    Đọc sách mẫu:

    ThS. CHU VĂN KHÁNH
    ThS. PHẠM NGỌC BÍCH
    ThS. NGUYỄN THỊ HẢI BÌNH
    ThS. NGUYỄN THỊ THÚY
    ThS. ĐÀO QUỲNH HOA
    ThS. NGUYỄN VIỆT HÀ
    NGUYỄN MẠNH HÙNG
    PHẠM THU HÀ
    NGUYỄN THỊ THÚY
    BÙI BỘI THU

    5

    BAN CHỈ ĐẠO CHƯƠNG TRÌNH
    LÊ HỒNG ANH

    Trưởng ban

    TÔ HUY RỨA

    Ủy viên

    ĐINH THẾ HUYNH

    Ủy viên

    TRẦN QUỐC VƯỢNG

    Ủy viên

    TẠ NGỌC TẤN

    Ủy viên

    BAN CHỦ NHIỆM CHƯƠNG TRÌNH
    TẠ NGỌC TẤN

    Chủ nhiệm

    PHẠM NGỌC ANH

    Phó Chủ nhiệm thường trực

    LÊ QUANG VĨNH

    Ủy viên

    HOÀNG PHONG HÀ

    Ủy viên

    TRẦN MINH TRƯỞNG

    Ủy viên

    BAN BIÊN SOẠN
    PGS.TS. PHẠM HỒNG CHƯƠNG (Chủ biên)
    PGS.TS. TRẦN MINH TRƯỞNG
    PGS.TS. NGUYỄN DANH TIÊN
    PGS.TS. ĐỖ XUÂN TUẤT
    TS. NGUYỄN THẮNG LỢI
    ThS. TRẦN THỊ NHUẦN
    ThS. ĐINH NGỌC QUÝ
    ThS. NGUYỄN TUYẾT HẠNH
    ThS. NGUYỄN VĂN HÒA
    CN. VÕ MINH QUYẾT
    CN. LÊ MINH CHIẾN

    6

    CỘNG TÁC VIÊN
    ThS. NGÔ XUÂN DƯƠNG
    PGS.TS. TRỊNH THỊ HỒNG HẠNH
    ThS. LÊ THỊ HIỀN
    ThS. LÊ THỊ HẰNG
    TS. LÊ THỊ THU HỒNG
    ThS. TRẦN THỊ HỢI
    ThS. TRẦN THỊ HUYỀN
    ThS. TRẦN VĂN KHÔI
    ThS. ĐỖ VĂN PHƯƠNG
    ThS. CHU LAM SƠN
    TS. ĐẶNG VĂN THÁI
    TS.NGUYỄN XUÂN TRUNG
    TS. NGUYỄN THỊ XUÂN
    TS. TRẦN THỊ VUI
    TS. NGUYỄN THỊ LƯƠNG UYÊN

    Viện Hồ Chí Minh và các
    lãnh tụ của Đảng
    Viện Lịch sử Đảng
    Viện Hồ Chí Minh và các
    lãnh tụ của Đảng
    Viện Hồ Chí Minh và các
    lãnh tụ của Đảng
    Viện Hồ Chí Minh và các
    lãnh tụ của Đảng
    Viện Hồ Chí Minh và các
    lãnh tụ của Đảng
    Viện Hồ Chí Minh và các
    lãnh tụ của Đảng
    Viện Hồ Chí Minh và các
    lãnh tụ của Đảng
    Viện Lịch sử Đảng
    Viện Hồ Chí Minh và các
    lãnh tụ của Đảng
    Viện Hồ Chí Minh và các
    lãnh tụ của Đảng
    Viện Hồ Chí Minh và các
    lãnh tụ của Đảng
    Viện Lịch sử Đảng
    Viện Lịch sử Đảng
    Viện Hồ Chí Minh và các
    lãnh tụ của Đảng

    Ngoài ra còn nhiều cộng tác viên khác tham gia
    viết bài cho hai Hội thảo khoa học

    7

    LỜI NHÀ XUẤT BẢN
    Võ Chí Công - người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí
    Minh, người chiến sĩ cộng sản kiên cường, bất khuất, nhà lãnh
    đạo tài năng của Đảng và Nhà nước ta. Cuộc đời và sự nghiệp của
    đồng chí Võ Chí Công gắn liền với quá trình cách mạng và những
    sự kiện lịch sử vô cùng quan trọng của Đảng và nhân dân ta.
    Đồng chí Võ Chí Công, tên khai sinh là Võ Toàn, sinh
    ngày 7-8-1912, tại xã Tam Xuân, huyện Tam Kỳ, tỉnh Quảng
    Nam - Đà Nẵng (nay là huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam).
    Được thừa hưởng truyền thống yêu nước của quê hương và
    gia đình, đồng chí đã sớm giác ngộ cách mạng. Năm 1930,
    đồng chí tham gia phong trào đoàn thanh niên cơ sở; tháng
    5-1935, được kết nạp Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là
    Đảng Cộng sản Việt Nam), từ đó, đồng chí tích cực, vượt qua
    mọi khó khăn, gian khổ, bám dân, bám địa bàn, hòa mình
    vào phong trào cách mạng trong những năm tháng gian khổ,
    hào hùng từ thời kỳ tiền khởi nghĩa, kháng chiến chống thực
    dân Pháp (1946 - 1954) đến cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ
    và bè lũ tay sai ở chiến trường Khu V ác liệt với các trận
    thắng lịch sử,... tạo đà thắng lợi cho cuộc Tổng tiến công và
    nổi dậy mùa xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam,
    thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
    Sau ngày đất nước thống nhất, với uy tín và nhiệt thành
    hết lòng phụng sự đất nước, đồng chí Võ Chí Công được giao

    8

    VÕ CHÍ CÔNG - TIỂU SỬ

    nhiều chức vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước: Ủy viên Bộ
    Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng, Phó
    Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng,
    Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Hội đồng Quốc
    phòng,... Dù ở bất kỳ cương vị công tác nào đồng chí cũng
    luôn trung thành tuyệt đối với mục tiêu, lý tưởng cách mạng,
    luôn phấn đấu hết mình để giữ gìn, tăng cường sự đoàn kết,
    thống nhất trong Đảng, sự gắn bó máu thịt giữa Đảng và
    nhân dân; sống giản dị, khiêm tốn, được đồng chí, đồng bào
    quý mến, tin cậy; được bạn bè quốc tế trân trọng.
    Để ghi nhớ những đóng góp to lớn của đồng chí Võ Chí
    Công đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc,
    qua đó góp phần tuyên truyền, giáo dục truyền thống yêu
    nước và cách mạng cho toàn Đảng, toàn dân, đặc biệt là thế
    hệ trẻ, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản
    cuốn sách Võ Chí Công - Tiểu sử do Viện Hồ Chí Minh và các
    lãnh tụ của Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
    biên soạn, nằm trong Chương trình sưu tầm tài liệu, viết tiểu
    sử các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng và cách mạng
    Việt Nam. Nội dung cuốn sách khắc họa rõ nét cuộc đời, sự
    nghiệp cách mạng của đồng chí Võ Chí Công, là những tư
    liệu quý giá giúp cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân
    hiểu hơn về nhà lãnh đạo chủ chốt xuất sắc của Đảng và cách
    mạng Việt Nam.
    Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
    Tháng 10 năm 2019
    NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT

    9

    LỜI NÓI ĐẦU
    Một trăm năm tuổi đời, với 77 năm phấn đấu không
    ngừng nghỉ dưới ngọn cờ của Đảng cho sự nghiệp vì độc
    lập dân tộc, thống nhất đất nước và đổi mới, đồng chí
    Võ Chí Công là một tấm gương sáng của người cộng sản
    kiên trung, nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước tài năng,
    một học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
    Sinh ra trong một gia đình giàu lòng yêu nước, đồng
    chí Võ Chí Công đã sớm giác ngộ và trở thành một
    chiến sĩ cộng sản kiên cường, đóng góp tích cực và to lớn
    vào quá trình phát triển của cách mạng nước ta. Vượt
    qua mọi khó khăn, gian khổ trong hoạt động cách mạng
    và nơi ngục tù đế quốc, trải qua hai cuộc kháng chiến
    đầy cam go, trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc
    Mỹ xâm lược, tới sự nghiệp đổi mới trong xây dựng và
    bảo vệ đất nước, tên tuổi và sự nghiệp của đồng chí mãi
    mãi được ghi vào lịch sử vẻ vang của Đảng và dân tộc.
    Cùng với tiến trình phấn đấu vì độc lập dân tộc và
    tự do, hạnh phúc của nhân dân, đồng chí Võ Chí Công
    đã từng bước trưởng thành, phát triển, được Đảng và

    10

    VÕ CHÍ CÔNG - TIỂU SỬ

    Nhà nước trao nhiều trọng trách: Bí thư Chi bộ ghép
    (một số xã thuộc huyện Tam Kỳ), Bí thư Phủ ủy Tam
    Kỳ, Bí thư Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Quảng Nam, Phó Bí
    thư và Bí thư Liên khu ủy V, Phó Bí thư Trung ương
    Cục miền Nam, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương
    Đảng, Bí thư Khu ủy V, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ
    tướng, Thường trực Ban Bí thư, Phó Chủ tịch Hội đồng
    Bộ trưởng, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Hội
    đồng Quốc phòng,...
    Trên bất kỳ cương vị nào, đồng chí Võ Chí Công cũng
    thể hiện tinh thần cách mạng, tài năng, phẩm chất đạo
    đức của một người cộng sản, một nhà lãnh đạo luôn vì lợi
    ích của Tổ quốc và nhân dân. Đảng ta đã khẳng định:
    đồng chí Võ Chí Công là một “chiến sĩ cộng sản kiên
    cường, suốt đời phấn đấu cho độc lập, tự do của dân tộc,
    vì hạnh phúc của nhân dân và vì lý tưởng cộng sản”;
    “một nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng và Nhà nước ta”,
    “một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí
    Minh” mà cuộc đời “gắn liền với quá trình cách mạng và
    những sự kiện lịch sử vô cùng quan trọng của Đảng và
    nhân dân ta”1.
    ___________
    1. Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương do đồng chí
    Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương
    Đảng, Trưởng ban lễ tang đọc tại Lễ truy điệu đồng chí Võ Chí
    Công, ngày 12-9-2011, Báo Nhân Dân, số ra ngày 13-9-2011.

    LỜI NÓI ĐẦU

    11

    Để ghi nhận những cống hiến to lớn của đồng chí Võ
    Chí Công đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân
    tộc, đồng thời giáo dục truyền thống yêu nước, đấu
    tranh cách mạng anh dũng, kiên cường của thế hệ cha
    anh, nhóm tác giả đã tổ chức sưu tầm tư liệu, biên soạn
    cuốn sách Võ Chí Công - Tiểu sử. Đây là sản phẩm của
    “Chương trình sưu tầm tài liệu, viết tiểu sử các đồng chí
    lãnh đạo chủ chốt của Đảng và cách mạng Việt Nam”
    theo chủ trương của Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng
    sản Việt Nam.
    Suốt đời phấn đấu cho lý tưởng của Đảng và cách
    mạng nước ta, đồng chí Võ Chí Công có nhiều hoạt động
    hết sức phong phú ở nhiều địa bàn, lĩnh vực và trên
    nhiều cương vị khác nhau trong một thế kỷ. Mặc dù
    nhóm tác giả đã hết sức cố gắng trong việc sưu tầm tài
    liệu và biên soạn với tinh thần trách nhiệm cao, nhưng
    cuốn sách Võ Chí Công - Tiểu sử khó tránh khỏi những
    nhược điểm và thiếu sót. Chúng tôi rất mong bạn đọc
    lượng thứ và đóng góp ý kiến để cuốn sách được hoàn
    thiện hơn trong lần xuất bản sau.
    Nhóm tác giả xin trân trọng cảm ơn sự chỉ đạo sát
    sao của Ban Chỉ đạo và Ban Chủ nhiệm Chương trình;
    các tổ chức đảng và chính quyền xã Tam Xuân I, Huyện
    ủy Núi Thành, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Nam;
    Quân khu 5; Cục Lưu trữ Trung ương Đảng; Trung tâm
    Lưu trữ Quốc gia I, II, III, các nhà khoa học, các cộng tác

    12

    VÕ CHÍ CÔNG - TIỂU SỬ

    viên và các cán bộ công tác cùng thời..., đặc biệt cảm ơn
    gia đình đồng chí Võ Chí Công đã hết sức giúp đỡ chúng
    tôi thực hiện và hoàn thiện cuốn sách này.
    T/M BAN BIÊN SOẠN
    CHỦ BIÊN
    PGS.TS. PHẠM HỒNG CHƯƠNG

    13

    Chương I

    QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH - TUỔI TRẺ
    (1912 - 1935)
    1. Quảng Nam và Tam Xuân
    Đồng chí Võ Chí Công, tên khai sinh là Võ Toàn
    (trong hoạt động cách mạng có bí danh Xuân, Năm
    Công), sinh ngày 7-8-1912, tại làng Khương Mỹ, tổng
    Phú Quý, phủ Tam Kỳ, nay thuộc xã Tam Xuân 1,
    huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
    Theo sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi và Đại Nam
    nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, Quảng
    Nam xưa “là đất Việt Thường Thị, đời Tần thuộc về
    Tượng Quận, đời Hán là bờ cõi quận Nhật Nam”1. Quận
    Nhật Nam có Chu Ngô và Lô Dung2. Đến năm 1474,
    vua Lê Thánh Tông thành lập Quảng Nam Thừa tuyên
    với ba phủ Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn gồm phần
    đất phía nam sông Thu Bồn đến Bình Định ngày nay.
    ___________
    1. Quốc sử quán triều Nguyễn, Viện Sử học: Đại Nam nhất
    thống chí, Nxb. Thuận Hóa, 2006, t.II, tr.386.
    2. Chu Ngô là Thừa Thiên, Lô Dung là Quảng Nam.

    14

    VÕ CHÍ CÔNG - TIỂU SỬ

    Đó là vùng “đất đai mở rộng về phương Nam, vâng lệnh
    vua để “tuyên dương đức hóa”. Đến đời vua Lê Tương
    Dực (1495 - 1516), Quảng Nam Thừa tuyên đổi thành
    trấn Quảng Nam.
    Năm 1803, thời vua Gia Long (1762 - 1820), trấn
    Quảng Nam gọi là Quảng Nam dinh. Năm 1805, lại đổi
    thành Trực lệ Quảng Nam dinh trực thuộc kinh sư.
    Năm 1827, vua Minh Mạng (1791 - 1840) lại đổi Quảng
    Nam dinh thành trấn Quảng Nam và đến năm 1832 đổi
    thành tỉnh Quảng Nam.
    Đến trước Cách mạng Tháng Tám (1945), tỉnh Quảng
    Nam có 4 phủ: Điện Bàn, Duy Xuyên, Thăng Bình, Tam
    Kỳ và 4 huyện: Hòa Vang, Đại Lộc, Quế Sơn, Tiên Phước1.
    ___________
    1. Sau Cách mạng Tháng Tám, Quảng Nam và Đà Nẵng
    tách ra làm hai đơn vị hành chính. Tháng 11-1946, hợp nhất
    thành tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Từ năm 1950 đến năm 1952,
    lại là hai đơn vị hành chính độc lập. Tháng 3-1952, hợp nhất
    thành tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Năm 1962, lại tách ra thành
    tỉnh Quảng Nam và tỉnh Quảng Đà. Từ năm 1964 đến năm 1967,
    theo chỉ đạo của Khu ủy Khu V, thành phố Đà Nẵng tách khỏi
    Quảng Đà trực thuộc Khu ủy V. Tháng 11-1967, tỉnh Quảng Đà
    hợp nhất với thành phố Đà Nẵng thành Đặc khu Quảng Đà.
    Sau năm 1975, lại hợp nhất thành tỉnh Quảng Nam - Đà
    Nẵng. Từ ngày 1-1-1997, tỉnh Quảng Nam và Đà Nẵng là hai
    đơn vị hành chính: tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng.
    Quảng Nam có 15 huyện. (Dẫn theo: Tỉnh ủy - Ủy ban nhân
    dân tỉnh Quảng Nam và Thành ủy - Ủy ban nhân dân thành
    phố Đà Nẵng: Địa chí Quảng Nam - Đà Nẵng, Nxb. Khoa học xã
    hội, Hà Nội, 2010, tr.1336-1348).

    Chương I: QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH - TUỔI TRẺ...

    15

    Định cư sinh sống ở Quảng Nam là lớp người Việt
    thứ hai tiến xuống phương Nam do sự vận động của
    lịch sử dân tộc1. Bởi vậy, bên cạnh việc gìn giữ những
    truyền thống, phong tục tập quán căn bản của người
    Việt như đoàn kết, cần cù, chịu khó trong lao động
    sản xuất, tình yêu thương con người, nhân dân ở đây
    cũng sáng tạo ra những nét mới trong sự giao thoa
    văn hóa Việt - Chăm.
    Quảng Nam được xem là vùng đất học2. Khắc phục
    khó khăn, nghèo khổ để theo việc học hành là một nét
    nổi bật của cộng đồng cư dân ở đây. Sách Đại Nam nhất
    thống chí, trong mục phong tục tỉnh Quảng Nam ghi
    rằng: “Đàn ông lo việc cày ruộng, trồng dâu, đàn bà
    ___________
    1. Từ thời nhà Hồ, việc khai khẩn Quảng Nam được tiến
    hành. Nhà Hồ hạ lệnh cho dân có của ở Nghệ An, Thuận Hóa
    đem vợ con vào khai khẩn, “dân ấy phải khắc hai chữ tên châu
    của mình trên cánh tay, lại mộ người có trâu bò đem nộp thì cấp
    cho phẩm tước để lấy trâu phát cho dân cày”. Sau đó, con Hồ
    Quý Ly là Hồ Hán Thương tiếp tục cử người chăm lo công việc
    khai khẩn vùng đất này.
    2. Được xem là đất học bởi Quảng Nam có danh tiếng khoa
    bảng. Trong 32 khoa thi Hương ở trường thi Thừa Thiên dưới
    triều Nguyễn (1817 - 1918), được ghi trong sách Quốc triều hương
    khoa lục, có 911 người đăng khoa thì có tới 252 người quê ở
    Quảng Nam đỗ liên tiếp cả 32 khoa thi. Về đại khoa, Quảng Nam
    có 14 Tiến sĩ, 24 Phó bảng trong tổng số 558 vị trong cả nước.
    (Dẫn theo Tỉnh ủy - Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam và Thành
    ủy - Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng: Địa chí Quảng Nam Đà Nẵng, Sđd, tr.1349-1361).

    16

    VÕ CHÍ CÔNG - TIỂU SỬ

    chuyên nghề nuôi tằm, dệt cửi, núi sông thanh tú cho
    nên nhiều người có tư chất thông minh, dễ học”1.
    Nói tới truyền thống hiếu học và khoa bảng của
    Quảng Nam phải kể đến “tứ kiệt” là Nguyễn Đình Hiến,
    Phan Châu Trinh, Võ Vỹ, Nguyễn Mậu Hoán đỗ Phó
    bảng khoa thi Tân Sửu (1901); “tứ hổ”: Phạm Liệu,
    Huỳnh Hanh (tức Huỳnh Thúc Kháng), Nguyễn Đình
    Hiến và Võ Hoành cùng đỗ thủ khoa trong các khoa thi
    kế tiếp nhau. Đặc biệt, Quảng Nam có “ngũ phượng tề
    phi” là năm người Quảng Nam cùng đỗ khoa Mậu Tuất
    (1898) với ba Tiến sĩ là Phạm Liệu, Phan Quang, Phạm
    Tuấn và hai Phó bảng là Ngô Chuân (hay Ngô Lý) và
    Dương Hiển Tiến2.
    Nhưng nét tiêu biểu trên hết là tinh thần kiên cường,
    bất khuất của nhân dân Quảng Nam trong đấu tranh
    chống ngoại xâm. Ngay từ những ngày đầu khi thực dân
    Pháp tiến hành xâm lược nước ta, nhân dân Quảng Nam
    đã anh dũng đứng lên kháng chiến chống thực dân Pháp.
    Ngày 1-9-1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha gồm 16
    tàu chiến được trang bị vũ khí hiện đại tấn công Đà Nẵng;
    ___________
    1. Đại Nam nhất thống chí, (bản thời Duy Tân), Bộ Quốc gia
    giáo dục xuất bản năm 1964, t.5, tr. 15.
    2. Tổng đốc Quảng Nam là Đào Tấn và Đốc học Trần Đình
    Phong được tin này đã cho thợ thêu năm con chim phượng trên
    một tấm thục, gồm ba con sải cánh (tượng trưng ba Tiến sĩ) và
    hai con xếp cánh (tượng trưng hai Phó bảng) treo tại dinh Tổng
    đốc trong buổi lễ đón các vị tân khoa này.

    Chương I: QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH - TUỔI TRẺ...

    17

    triều đình nhà Nguyễn tổ chức lực lượng chống cự và chặn
    được quân xâm lược ngoài cửa biển Đà Nẵng. Sau khi
    Tổng đốc Lê Đình Lý bị trúng đạn trọng thương rồi hy
    sinh, Thống chế Chu Phúc Minh lên thay; sau đó vua
    Tự Đức điều Nguyễn Tri Phương, đang làm kinh lược sứ
    Nam Kỳ ra chỉ huy mặt trận Đà Nẵng, thay cho Chu
    Phúc Minh. Nguyễn Tri Phương chủ trương không đánh
    trực diện với địch mà tiến hành bao vây, phục kích, vận
    động nhân dân thực hiện vườn không nhà trống, cô lập
    và triệt đường tiếp tế, cung cấp lương thực tại chỗ của
    địch. Bởi vậy, đến hết năm 1858, quân địch không thể
    phá vỡ thế phòng thủ của quân và dân Đà Nẵng để mở
    rộng địa bàn chiếm đóng nhằm thực hiện mưu đồ đánh
    nhanh thắng nhanh, nên phải chuyển hướng vào Nam
    đánh Gia Định. Sau 18 tháng bị sa lầy, quân Pháp phải
    rút khỏi Đà Nẵng1.
    Sau khi triều đình nhà Nguyễn ký hiệp ước Patơnôt
    ngày 6-6-1884 thừa nhận và chấp nhận nền bảo hộ của
    nước Pháp, ngày 5-7-1885, tiếng súng chống Pháp do
    Tôn Thất Thuyết khởi xướng nổ ở kinh đô Huế. Ngày
    13-7, vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vương hô hào dân
    chúng phò vua cứu nước. Hưởng ứng chiếu Cần vương,
    dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước, quân dân cả
    ___________
    1. Xem Tỉnh ủy - Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam và
    Thành ủy - Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng: Địa chí
    Quảng Nam - Đà Nẵng, Sđd, tr. 1336-1348.

    18

    VÕ CHÍ CÔNG - TIỂU SỬ

    nước, trong đó có nhân dân Quảng Nam, đã kiên cường
    đứng lên chống quân xâm lược. Tại Quảng Nam, từ
    năm 1885 đến năm 1887, đã nổ ra cuộc đấu tranh vũ
    trang do Tiến sĩ Trần Văn Dư, Phó bảng Nguyễn Duy
    Hiệu, Cử nhân Phan Bá Phiến, Ấm sinh Nguyễn Thành
    (Tiểu La) lãnh đạo. Các ông lập Nghĩa hội kêu gọi nhân
    dân chống lại quân triều đình đầu hàng và quân đội
    Pháp. Tiến sĩ Trần Văn Dư được bầu làm Thủ lĩnh hội.
    Tháng 8-1885, ông ra bản cáo thị kêu gọi nhân dân
    Quảng Nam đáp nghĩa Cần Vương, chống thực dân
    Pháp. Ngày 4-9-1885, nghĩa quân bao vây chiếm tỉnh
    thành La Qua buộc Bố chính Bùi Tiến Tiên và Tuần
    phủ Nguyễn Ngoạn phải dẫn quân rút chạy. Quân
    Pháp và triều đình phản công vào các căn cứ của nghĩa
    quân, nghĩa quân bị thất thủ. Trần Văn Dư dùng kế
    “giải binh quy điền” nhằm bảo toàn lực lượng, tính kế
    lâu dài. Tháng 12-1885, giao binh quyền cho Nguyễn
    Duy Hiệu, ông đi Huế định gặp vua Đồng Khánh (ông
    vốn là phụ đạo giảng tập cho Đồng Khánh) để tìm cách
    giải thoát khó khăn cho Nghĩa hội. Nhưng khi qua La
    Thành gặp quyền Tổng đốc Quảng Nam là Châu Đình
    Kế, ông bị bắt và bị bắn ngày 13-12-1885.
    Nguyễn Duy Hiệu nắm Nghĩa hội đã lấy thung
    lũng Trung Lộc (Quế Sơn) làm tổng hành dinh, gọi là
    Tân tỉnh Trung Lộc và tổ chức đánh nhiều trận, gây
    cho đối phương nhiều thiệt hại. Quân Pháp và triều
    đình bao vây và đánh thẳng vào tổng hành dinh. Biết

    Chương I: QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH - TUỔI TRẺ...

    19

    không cầm cự được, nghĩa quân vượt vây chạy về gần
    cửa biển An Hòa (Tam Kỳ). Không để nghĩa quân bị
    giết hại, Phan Bá Phiến uống thuốc độc tự sát để tránh
    bị bắt, Nguyễn Duy Hiệu tự trói mình nạp mạng cho
    đối phương để nhận lãnh hết trách nhiệm về mình
    (ngày 21-9-1887). Triều đình dụ hàng, Nguyễn Duy
    Hiệu không nghe và bị tử hình vào ngày 15-10-1887.
    Bất chấp tương quan lực lượng chênh lệch và sự đàn
    áp tàn bạo của thực dân Pháp và triều đình phong kiến,
    nhân dân Quảng Nam luôn nêu cao ý chí kiên cường,
    bất khuất chiến đấu chống lại kẻ thù.
    Bên cạnh hình thức đấu tranh vũ trang, ở Quảng
    Nam cũng xuất hiện một hình thức đấu tranh mới chống
    thực dân Pháp xâm lược và chế độ phong kiến tay sai.
    Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, dưới tác động của tư
    tưởng dân chủ phương Tây và những biến đổi của xã hội
    trong nước, ở nước ta xuất hiện một xu hướng cứu nước
    mới là phong trào Duy Tân được khởi xướng ở miền Trung
    bởi các sĩ phu yêu nước Quảng Nam là Phan Châu Trinh,
    Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng. Các lãnh tụ phong
    trào chủ trương bất bạo động, khôi phục đất nước bằng
    con đường “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” nâng cao dân trí, cải tổ xã hội về kinh tế, giáo dục và văn
    hóa, với các hoạt động thực tiễn như mở mang kinh tế, lập
    các nhà buôn lớn để tự lực, mở trường dạy học chữ quốc
    ngữ, bỏ lối học khoa bảng từ chương, chú trọng khoa học

    20

    VÕ CHÍ CÔNG - TIỂU SỬ

    và ngoại ngữ cũng như hướng đến nền chính trị dân chủ.
    Một cuộc cách mạng về lối sống như cắt tóc ngắn, mặc Âu
    phục cũng được thúc đẩy. Khởi đầu năm 1905, phong trào
    Duy Tân tác động mạnh mẽ đến tinh thần yêu nước của
    nhân dân cả nước, nhất là ở Quảng Nam, quê hương của
    các lãnh tụ phong trào.
    Đầu tháng 3-1908, ở Quảng Nam đã bùng nổ một
    hình thức đấu tranh mới, khởi đầu cho phong trào
    chống thuế, xuất phát từ huyện Đại Lộc rồi lan nhanh
    tới các phủ, huyện trong tỉnh và kéo dài hơn một tháng
    ở Quảng Nam và các tỉnh khác ở Trung Kỳ. Khi thực
    dân Pháp mở rộng đường từ huyện Đại Lộc đi tỉnh lỵ,
    nhân việc phu làm đường phản đối tri huyện ăn hối lộ,
    các ông Trương Hoành, Lương Châu, Hứa Tạo, Trương
    Tổn, Trương Côn, Trương Đính,... đã bàn nhau làm đơn
    lấy chữ ký của dân ở các làng xã trong huyện để trình
    huyện chuyển lên Tòa sứ tỉnh xin giảm nhẹ sưu, thuế.
    Đêm 9-3, người dân tập hợp tại đình làng Hoằng
    Phước. Sáng 10-3, họ đi tới trụ sở tổng Đức Hòa. Ngày
    11-3, đoàn người đi lên tỉnh đòi bỏ lệ đi xâu và giảm
    thuế. Nhân dân dọc đường tham gia ngày một đông.
    Công sứ Pháp ra lệnh đàn áp nhưng không giải tán
    được đoàn biểu tình. Khi Tòa sứ hứa cách chức tri
    huyện, không tăng sưu, thuế nữa, đoàn biểu tình mới
    giải tán dần. Cuộc biểu tình chống thuế kéo dài hơn
    một tháng với sự hưởng ứng của nhân dân trong tỉnh.
    Công sứ Pháp phải ra lệnh giới nghiêm và tăng cường
    lính cho các phủ, huyện để đàn áp biểu tình.

    Chương I: QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH - TUỔI TRẺ...

    21

    Nguyễn Tất Thành (Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này)
    đã tham gia phong trào chống thuế ở Huế. Đây là hoạt
    động có tính chất chính trị, yêu nước đầu tiên của Người.
    Tất cả những hình thức đấu tranh trên tuy bị thất
    bại nhưng sự nối tiếp của các phong trào này đã biểu
    thị ý chí tự cường dân tộc, góp phần duy trì ngọn lửa
    yêu nước và tinh thần đấu tranh anh dũng vì độc lập,
    tự do của dân tộc ta cũng như nhân dân Quảng Nam
    không bao giờ tàn lụi. Ý chí, tinh thần đó đã tác động
    mạnh mẽ đến mọi lớp người Quảng Nam sau này.
    Tiếp theo những cuộc vận động yêu nước dồn dập đầu
    thế kỷ XX là phong trào đòi thả Phan Bội Châu (1925) và
    để tang Phan Châu Trinh (1926), sau đó ở Quảng Nam lại
    xuất hiện những hình thức đấu tranh mới như bãi khóa
    của học sinh Đà Nẵng (1926) và Hội An (1927).
    Năm 1927, Ban vận động Hội Việt Nam Cách mạng
    Thanh niên Quảng Nam được thành lập1. Tháng 9-1927,
    Chi bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên Đà Nẵng ra
    đời và phát triển nhanh chóng. Tháng 10-1927, ở Hội An,
    một chi bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên cũng được
    thành lập do Phan Thêm (Cao Hồng Lãnh) làm Bí thư.
    Trên cơ sở phát triển của các chi bộ, đầu năm 1928, Ban
    ___________
    1. Ban này được thành lập (do phái viên của Hội Việt Nam
    Cách mạng Thanh niên là Đỗ Quang vận động) gồm các thành
    viên người Quảng Nam: Đỗ Quang, Đỗ Quỳ, Lê Quang Sung,
    Phan Long, Thái Thị Bôi. Trường Cự Tùng được lấy làm nơi liên
    lạc, hoạt động của Ban (Dẫn theo: Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà
    Nẵng: Lịch sử Đảng bộ Quảng Nam - Đà Nẵng (1930 - 1975)
    Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 67).

    22

    VÕ CHÍ CÔNG - TIỂU SỬ

    Chấp hành Tỉnh bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên
    Quảng Nam được thành lập1.
    Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Quảng Nam
    là cơ sở cho sự xuất hiện của Đảng bộ Quảng Nam Đông
    Dương Cộng sản Đảng (tháng 9-1929). Sau khi Đảng Cộng
    sản Việt Nam ra đời (3-2-1930), ngày 28-3-1930, Ban
    Chấp hành lâm thời Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam
    tỉnh Quảng Nam đã được thành lập và ngày 1-5-1930, chi
    bộ cộng sản đầu tiên ở Tam Kỳ cũng ra đời. Cùng với sự
    xuất hiện của hệ thống tổ chức này là các hoạt động tuyên
    truyền theo con đường cách mạng vô sản, trở thành xu
    hướng chính của phong trào cách mạng ở Quảng Nam.
    Trong lịch sử, Tam Xuân2 là một xã đồng bằng của
    huyện Tam Kỳ3 cách thành phố Tam Kỳ 3km về phía bắc4.
    ___________
    1. Gồm: Đỗ Quang, Phan Thêm, Nguyễn Tường, Nguyễn Thái,
    Phan Long, Thái Thị Bôi, Lê Văn Hiến do Đỗ Quang làm Bí thư.
    2. Năm 1983, huyện Tam Kỳ chia thành huyện Tam Kỳ và
    huyện Núi Thành. Tam Xuân thuộc huyện Núi Thành. Năm
    1994, Tam Xuân chia thành xã Tam Xuân 1 và xã Tam Xuân 2.
    3. Địa danh Tam Kỳ có xuất xứ như sau: năm 1841, phủ
    Thăng Hoa được vua Thiệu Trị đổi thành phủ Thăng Bình; năm
    1906 (năm Thành Thái thứ 18), huyện Hà Đông đổi thành phủ
    Hà Đông, sau đổi thành phủ Tam Kỳ.
    4. Theo đúng tiến trình lịch sử tương ứng với hoạt động của
    đồng chí Võ Chí Công, nhóm biên soạn sử dụng địa danh lịch sử
    theo vùng địa lý tương ứng là phủ (huyện) Tam Kỳ. Vì đến năm
    1983, huyện Núi Thành mới thành lập và là phần đất phía nam
    của huyện Tam Kỳ nên có chung lịch sử của Tam Kỳ.

    Chương I: QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH - TUỔI TRẺ...

    23

    Phía đông, Tam Xuân giáp xã Tam Tiến; phía tây,
    giáp hồ thủy nông Phú Ninh và xã Tam Thạnh; phía
    nam, giáp xã Tam Anh Bắc; phía bắc, giáp thành phố
    Tam Kỳ.
    Lịch sử hình thành vùng đất Tam Xuân gắn liền với
    hiện tượng biến động lần thứ ba của vùng đất Tam Kỳ,
    với sự thay đổi từ ao hồ, sông đầm trở thành đồng
    ruộng. Từ đó, Tam Xuân được chia thành hai vùng chủ
    yếu: vùng đồng bằng phía đông quốc lộ 1A bị chia cắt
    bởi nhiều hồ, ao trũng, vũng, đầm, với những tên gọi
    như Bàu Dũ, Bàu Nê, Bàu Sen...; vùng đất phía tây của
    xã, phía trên quốc lộ 1A, là các dãy đồng bằng nhỏ hẹp,
    đất đỏ khô cằn, xen kẽ các dãy núi thấp từ tây sang
    đông, giáp với vùng đồi núi của xã Tam Thanh, chiếm
    khoảng 25% diện tích tự nhiên toàn xã, gắn liền với các
    tục danh như núi Bà Ty, núi Trà Quân, núi đất Vĩnh
    An, núi Đèo Dài (Dôn Thành)...
    Thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung
    bình hằng năm ở Tam Xuân là 25,5oC; lượng mưa
    trung bình 2.050mm và phân bố không đều trong
    năm với độ ẩm trung bình là 83 - 85%. Bão, lũ thường
    xuất hiện, gây thiệt hại nhất là vào các tháng Chín và
    Mười âm lịch.
    Đầu thế kỷ XX, hệ thống giao thông của Tam Xuân
    chưa được đầu tư phát triển, việc đi lại trong xã chủ yếu
    bằng đường đất với phương tiện thô sơ. Bị bao quanh

    24

    VÕ CHÍ CÔNG - TIỂU SỬ

    bởi sông ngòi và đầm lầy nên giao thông đường bộ ở đây
    bị hạn chế vào mùa mưa. Nhưng vì có đường thiên lý
    Bắc - Nam1 đi qua nên đã tạo điều kiện thuận lợi cho
    Tam Xuân trong giao lưu, buôn bán với các địa phương
    trong vùng cũng như các trung tâm thương mại An
    Tân, Tam Kỳ2. Từ năm 1936, tuyến đường sắt Bắc Nam do thực dân Pháp xây dựng và đưa vào khai thác
    đi qua Tam Xuân đã giúp cho việc đi lại, giao thương
    thuận lợi hơn, tạo điều kiện để Tam Xuân phát triển về
    các mặt kinh tế, văn hóa...
    Sông Bà Bầu3 ở phía tây nam Tam Xuân, bắt
    nguồn từ núi Diêng Bông qua Bà Ty và núi Mã Yên,
    là ranh giới giữa xã Tam Xuân và xã Tam Anh Bắc.
    Phía bắc xã có sông Tam Kỳ, là nơi giáp ranh giữa
    Tam Xuân và các phường An Sơn, Hoà Hương, xã
    Tam Ngọc (thành phố Tam Kỳ). Sông Bà Bầu và
    sông Tam Kỳ hợp lưu với sông Trường Giang, do đó
    việc đi lại, buôn bán bằng đường thủy đến Tam Kỳ,
    Hội An khá thuận lợi.
    Với hệ thống giao thông như vậy, lại gần ngã ba
    Tam Kỳ, nên Tam Xuân có nhiều thuận lợi trong giao
    lưu, phát triển kinh tế, văn hoá. Nhưng do thổ nhưỡng ở
    đây bạc màu, nên khả năng phát triển nông nghiệp có hạn.
    ___________
    1. Nay là quốc lộ 1A.
    2. Là phần đất thuộc xã Tam Nghĩa, nay là thị trấn Núi Thành.
    3. Còn gọi là sông Trường Đồng, sông Ba Túc.

    Chương I: QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH - TUỔI TRẺ...

    25

    Vì vậy, nhân dân Tam Xuân phải không ngừng khắc
    phục mọi khó khăn trong sản xuất và tìm phương thức
    thích hợp để bảo đảm cuộc sống của mình.
    Cũng như nhiều địa phương khác ở Trung Trung
    Bộ, cư dân đến định cư, lập nghiệp ở Tam Xuân chủ
    yếu có nguồn gốc từ các tỉnh Bắc Trung Bộ (nhất là
    Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh)... vào mở đất, lập làng,
    tập trung theo ba đợt lớn dưới thời nhà Hồ, nhà Lê và
    các chúa Nguyễn. Gia phả của các tộc họ địa phương
    cho thấy các họ Mai, Nguyễn, Trần, Lê, Đỗ... vào khai
    khẩn vùng đất này sớm nhất và đều là người gốc Nghệ
    An di cư đến Tam Xuân vào khoảng nửa cuối thế kỷ XV.
    Đặc biệt, cư dân vùng Bắc Trung Bộ di cư vào đây
    nhiều nhất dưới thời Trịnh - Nguyễn (khoảng nửa cuối
    thế kỷ XVIII). Phần lớn trong số họ là nông dân nghèo,
    không có ruộng đất, phải đi khai hoang theo chế độ
    binh điền, hoặc là những người do chống lại triều đình
    phong kiến nên bị bắt lưu đày, hay muốn tránh cuộc
    nội chiến tương tàn dưới thời Trịnh - Nguyễn... Bởi
    vậy, họ đều oán ghét chế độ phong kiến thối nát và
    chiến tranh cát cứ.
    Trước những khó khăn, khắc nghiệt của điều
    kiện tự nhiên, nhân dân Tam Xuân đã phát huy tinh
    thần lao động cần cù, đoàn kết đấu tranh, dần dần
    khai phá vùng đất khô cằn này, tạo dựng thành xóm

    26

    VÕ CHÍ CÔNG - TIỂU SỬ

    làng, ổn định cuộc sống. Do vậy, bên cạnh những đặc
    tính truyền thống của người Việt, con người nơi đây
    cũng hình thành những tính cách riêng mạnh mẽ và
    thực tế.
    Hoạt động kinh tế của Tam Xuân chủ yếu là sản
    xuất nông nghiệp nhỏ, tự cấp, tự túc, lệ thuộc khá
    nhiều vào tự nhiên. Lúa là cây lương thực chính ở đây,
    nhưng phần lớn diện tích trồng lúa (vụ đông) dựa vào
    nước mưa và nguồn nước tự nhiên ở các hồ, đập. Để
    khắc phục sự khắc nghiệt của thiên nhiên, nhân dân
    Tam Xuân đã tận dụng các hồ nước tự nhiên trên địa
    bàn và xây dựng hệ thống kênh mương dẫn nước về các
    cánh đồng Bàu Dũ, Bàu Ốc, Bàu Nê... nhưng vào những
    năm khô hạn, lượng nước không đủ, làm cho năng suất
    lúa rất thấp. Tuy nhiên, các loại hoa màu như lạc, vừng
    lại phù hợp với thổ nhưỡng và khí hậu nên năng suất
    khá ổn định.
    Trước năm 1930, nông dân chỉ có khoảng 1% ruộng
    đất, còn lại nằm trong tay địa chủ, phú nông. Do vậy,
    vào những lúc nông nhàn, nhân dân thường rủ nhau đi
    mua khoai, sắn, lạc ở khắp nơi về bán kiếm lời và tổ
    chức ép dầu lạc để bán. Nghề ép dầu lạc phát triển nhất
    ở khu vực các thôn Khương Mỹ, Bích Ngô.
    Chăn nuôi hộ gia đình chủ yếu là trâu, bò để lấy sức
    kéo và phân bón cho sản xuất. Chăn nuôi gia cầm chỉ để
    đáp ứng nhu cầu thực phẩm hằng ngày. Những người

    Chương I: QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH - TUỔI TRẺ...

    27

    dân sống dọc theo sông Trường Giang có nghề đánh bắt
    thủy sản bằng những dụng cụ thô sơ nên sản lượng
    thấp, chủ yếu phục vụ bữa ăn gia đình và để trao đổi
    các mặt hàng thiết yếu cho đời sống.
    Giao thương hàng hóa ở Tam Xuân phát triển từ
    khá sớm. Từ thời Gia Long, ở đây đã hình thành quán
    Khương Mỹ1, sau mở rộng thành xóm quán chạy dài từ
    đầu cầu Tam Kỳ đến khu vực cống Trắng. Đây là nơi
    giao lưu, buôn bán với các địa phương khác thông qua
    đường bộ và đường sông Tam Kỳ. Chợ Bà Bầu (thôn Bà
    Bầu) được hình thành dưới thời Pháp thuộc, là nơi buôn
    bán, trao đổi hàng hóa với các xã trong vùng như Vân
    Trai (xã Tam Hiệp), Diêm Phổ (xã Tam Anh Nam), An
    Hòa (xã Tam Hải), Tam Hà (xã Tam Tiến), An Tân (nay
    thuộc thị trấn Núi Thành)...2.
    Ngoài ra, ở Tam Xuân còn có một số người hành
    nghề thuốc đông y, thợ cắt tóc, thợ may, thợ mộc. Do
    những khó khăn, thanh niên Tam Xuân thường đi làm
    ăn xa quê tới các đô thị, đồn điền,...
    Tín ngưỡng ở Tam Xuân chủ yếu là thờ cúng ông bà,
    tổ tiên. Làng nào cũng có đình thờ thành hoàng hoặc
    ___________
    1. Nay thuộc thôn Khương Mỹ, xã Tam Xuân 1.
    2. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, chợ Bà Bầu đáp
    ứng yêu cầu trao đổi hàng hóa thiết yếu của nhân dân trong
    vùng và cung ứng các mặt hàng phục vụ kháng chiến.

    28

    VÕ CHÍ CÔNG - TIỂU SỬ

    thờ tiền hiền có công khai cơ, lập nghiệp1. Đình làng
    Vĩnh An2, đình làng Phú Hưng3 được nhân dây xây
    dựng để làm nơi thờ tự các vị tiền nhân đã có công khai
    phá vùng đất này. Đặc biệt, giỗ Tổ Hùng Vương và cúng
    tiền hiền hằng năm đúng vào ngày 10 tháng Ba âm lịch
    hoặc vào dịp đầu năm mới. Trước năm 1930, Tam Xuân
    chỉ có một ngôi chùa nhỏ ở thôn Trường An.
    Tam Xuân là vùng đất vốn thuộc địa bàn cư trú của
    người Chăm từ xa xưa, gắn với nhiều di tích lịch sử văn hóa đặc sắc và phong phú như di tích Bàu Dũ, di
    tích Tam Mỹ, tháp Khương Mỹ4. Bởi vậy, các phong tục
    ___________
    1. Đến năm 1936, đạo Tin lành xuất hiện tập trung ở các
    làng Phú Hưng, Vĩnh An (Tam Xuân) nhưng không có nhà thờ.
    Tín đồ sinh hoạt cùng tín hữu Tin lành ở Tam Kỳ.
    2. Đình làng Vĩnh An (xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ XV)
    thờ Mai Vă...
     
    Gửi ý kiến