20-11 là ngày gì? Nguồn gốc, ý nghĩa của ngày Nhà giáo Việt Nam
Võ Chí Công tiểu sử

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:56' 15-11-2024
Dung lượng: 17.9 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:56' 15-11-2024
Dung lượng: 17.9 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Chịu trách nhiệm xuất bản
GIÁM ĐỐC - TỔNG BIÊN TẬP
PGS.TS. PHẠM MINH TUẤN
Chịu trách nhiệm nội dung
PHÓ GIÁM ĐỐC - PHÓ TỔNG BIÊN TẬP
ThS. PHẠM THỊ THINH
Biên tập nội dung:
Trình bày bìa:
Chế bản vi tính:
Đọc sách mẫu:
ThS. CHU VĂN KHÁNH
ThS. PHẠM NGỌC BÍCH
ThS. NGUYỄN THỊ HẢI BÌNH
ThS. NGUYỄN THỊ THÚY
ThS. ĐÀO QUỲNH HOA
ThS. NGUYỄN VIỆT HÀ
NGUYỄN MẠNH HÙNG
PHẠM THU HÀ
NGUYỄN THỊ THÚY
BÙI BỘI THU
5
BAN CHỈ ĐẠO CHƯƠNG TRÌNH
LÊ HỒNG ANH
Trưởng ban
TÔ HUY RỨA
Ủy viên
ĐINH THẾ HUYNH
Ủy viên
TRẦN QUỐC VƯỢNG
Ủy viên
TẠ NGỌC TẤN
Ủy viên
BAN CHỦ NHIỆM CHƯƠNG TRÌNH
TẠ NGỌC TẤN
Chủ nhiệm
PHẠM NGỌC ANH
Phó Chủ nhiệm thường trực
LÊ QUANG VĨNH
Ủy viên
HOÀNG PHONG HÀ
Ủy viên
TRẦN MINH TRƯỞNG
Ủy viên
BAN BIÊN SOẠN
PGS.TS. PHẠM HỒNG CHƯƠNG (Chủ biên)
PGS.TS. TRẦN MINH TRƯỞNG
PGS.TS. NGUYỄN DANH TIÊN
PGS.TS. ĐỖ XUÂN TUẤT
TS. NGUYỄN THẮNG LỢI
ThS. TRẦN THỊ NHUẦN
ThS. ĐINH NGỌC QUÝ
ThS. NGUYỄN TUYẾT HẠNH
ThS. NGUYỄN VĂN HÒA
CN. VÕ MINH QUYẾT
CN. LÊ MINH CHIẾN
6
CỘNG TÁC VIÊN
ThS. NGÔ XUÂN DƯƠNG
PGS.TS. TRỊNH THỊ HỒNG HẠNH
ThS. LÊ THỊ HIỀN
ThS. LÊ THỊ HẰNG
TS. LÊ THỊ THU HỒNG
ThS. TRẦN THỊ HỢI
ThS. TRẦN THỊ HUYỀN
ThS. TRẦN VĂN KHÔI
ThS. ĐỖ VĂN PHƯƠNG
ThS. CHU LAM SƠN
TS. ĐẶNG VĂN THÁI
TS.NGUYỄN XUÂN TRUNG
TS. NGUYỄN THỊ XUÂN
TS. TRẦN THỊ VUI
TS. NGUYỄN THỊ LƯƠNG UYÊN
Viện Hồ Chí Minh và các
lãnh tụ của Đảng
Viện Lịch sử Đảng
Viện Hồ Chí Minh và các
lãnh tụ của Đảng
Viện Hồ Chí Minh và các
lãnh tụ của Đảng
Viện Hồ Chí Minh và các
lãnh tụ của Đảng
Viện Hồ Chí Minh và các
lãnh tụ của Đảng
Viện Hồ Chí Minh và các
lãnh tụ của Đảng
Viện Hồ Chí Minh và các
lãnh tụ của Đảng
Viện Lịch sử Đảng
Viện Hồ Chí Minh và các
lãnh tụ của Đảng
Viện Hồ Chí Minh và các
lãnh tụ của Đảng
Viện Hồ Chí Minh và các
lãnh tụ của Đảng
Viện Lịch sử Đảng
Viện Lịch sử Đảng
Viện Hồ Chí Minh và các
lãnh tụ của Đảng
Ngoài ra còn nhiều cộng tác viên khác tham gia
viết bài cho hai Hội thảo khoa học
7
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Võ Chí Công - người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, người chiến sĩ cộng sản kiên cường, bất khuất, nhà lãnh
đạo tài năng của Đảng và Nhà nước ta. Cuộc đời và sự nghiệp của
đồng chí Võ Chí Công gắn liền với quá trình cách mạng và những
sự kiện lịch sử vô cùng quan trọng của Đảng và nhân dân ta.
Đồng chí Võ Chí Công, tên khai sinh là Võ Toàn, sinh
ngày 7-8-1912, tại xã Tam Xuân, huyện Tam Kỳ, tỉnh Quảng
Nam - Đà Nẵng (nay là huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam).
Được thừa hưởng truyền thống yêu nước của quê hương và
gia đình, đồng chí đã sớm giác ngộ cách mạng. Năm 1930,
đồng chí tham gia phong trào đoàn thanh niên cơ sở; tháng
5-1935, được kết nạp Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là
Đảng Cộng sản Việt Nam), từ đó, đồng chí tích cực, vượt qua
mọi khó khăn, gian khổ, bám dân, bám địa bàn, hòa mình
vào phong trào cách mạng trong những năm tháng gian khổ,
hào hùng từ thời kỳ tiền khởi nghĩa, kháng chiến chống thực
dân Pháp (1946 - 1954) đến cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ
và bè lũ tay sai ở chiến trường Khu V ác liệt với các trận
thắng lịch sử,... tạo đà thắng lợi cho cuộc Tổng tiến công và
nổi dậy mùa xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam,
thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Sau ngày đất nước thống nhất, với uy tín và nhiệt thành
hết lòng phụng sự đất nước, đồng chí Võ Chí Công được giao
8
VÕ CHÍ CÔNG - TIỂU SỬ
nhiều chức vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước: Ủy viên Bộ
Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng, Phó
Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng,
Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Hội đồng Quốc
phòng,... Dù ở bất kỳ cương vị công tác nào đồng chí cũng
luôn trung thành tuyệt đối với mục tiêu, lý tưởng cách mạng,
luôn phấn đấu hết mình để giữ gìn, tăng cường sự đoàn kết,
thống nhất trong Đảng, sự gắn bó máu thịt giữa Đảng và
nhân dân; sống giản dị, khiêm tốn, được đồng chí, đồng bào
quý mến, tin cậy; được bạn bè quốc tế trân trọng.
Để ghi nhớ những đóng góp to lớn của đồng chí Võ Chí
Công đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc,
qua đó góp phần tuyên truyền, giáo dục truyền thống yêu
nước và cách mạng cho toàn Đảng, toàn dân, đặc biệt là thế
hệ trẻ, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản
cuốn sách Võ Chí Công - Tiểu sử do Viện Hồ Chí Minh và các
lãnh tụ của Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
biên soạn, nằm trong Chương trình sưu tầm tài liệu, viết tiểu
sử các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng và cách mạng
Việt Nam. Nội dung cuốn sách khắc họa rõ nét cuộc đời, sự
nghiệp cách mạng của đồng chí Võ Chí Công, là những tư
liệu quý giá giúp cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân
hiểu hơn về nhà lãnh đạo chủ chốt xuất sắc của Đảng và cách
mạng Việt Nam.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
Tháng 10 năm 2019
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
9
LỜI NÓI ĐẦU
Một trăm năm tuổi đời, với 77 năm phấn đấu không
ngừng nghỉ dưới ngọn cờ của Đảng cho sự nghiệp vì độc
lập dân tộc, thống nhất đất nước và đổi mới, đồng chí
Võ Chí Công là một tấm gương sáng của người cộng sản
kiên trung, nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước tài năng,
một học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Sinh ra trong một gia đình giàu lòng yêu nước, đồng
chí Võ Chí Công đã sớm giác ngộ và trở thành một
chiến sĩ cộng sản kiên cường, đóng góp tích cực và to lớn
vào quá trình phát triển của cách mạng nước ta. Vượt
qua mọi khó khăn, gian khổ trong hoạt động cách mạng
và nơi ngục tù đế quốc, trải qua hai cuộc kháng chiến
đầy cam go, trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ xâm lược, tới sự nghiệp đổi mới trong xây dựng và
bảo vệ đất nước, tên tuổi và sự nghiệp của đồng chí mãi
mãi được ghi vào lịch sử vẻ vang của Đảng và dân tộc.
Cùng với tiến trình phấn đấu vì độc lập dân tộc và
tự do, hạnh phúc của nhân dân, đồng chí Võ Chí Công
đã từng bước trưởng thành, phát triển, được Đảng và
10
VÕ CHÍ CÔNG - TIỂU SỬ
Nhà nước trao nhiều trọng trách: Bí thư Chi bộ ghép
(một số xã thuộc huyện Tam Kỳ), Bí thư Phủ ủy Tam
Kỳ, Bí thư Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Quảng Nam, Phó Bí
thư và Bí thư Liên khu ủy V, Phó Bí thư Trung ương
Cục miền Nam, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương
Đảng, Bí thư Khu ủy V, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ
tướng, Thường trực Ban Bí thư, Phó Chủ tịch Hội đồng
Bộ trưởng, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Hội
đồng Quốc phòng,...
Trên bất kỳ cương vị nào, đồng chí Võ Chí Công cũng
thể hiện tinh thần cách mạng, tài năng, phẩm chất đạo
đức của một người cộng sản, một nhà lãnh đạo luôn vì lợi
ích của Tổ quốc và nhân dân. Đảng ta đã khẳng định:
đồng chí Võ Chí Công là một “chiến sĩ cộng sản kiên
cường, suốt đời phấn đấu cho độc lập, tự do của dân tộc,
vì hạnh phúc của nhân dân và vì lý tưởng cộng sản”;
“một nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng và Nhà nước ta”,
“một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí
Minh” mà cuộc đời “gắn liền với quá trình cách mạng và
những sự kiện lịch sử vô cùng quan trọng của Đảng và
nhân dân ta”1.
___________
1. Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương do đồng chí
Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương
Đảng, Trưởng ban lễ tang đọc tại Lễ truy điệu đồng chí Võ Chí
Công, ngày 12-9-2011, Báo Nhân Dân, số ra ngày 13-9-2011.
LỜI NÓI ĐẦU
11
Để ghi nhận những cống hiến to lớn của đồng chí Võ
Chí Công đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân
tộc, đồng thời giáo dục truyền thống yêu nước, đấu
tranh cách mạng anh dũng, kiên cường của thế hệ cha
anh, nhóm tác giả đã tổ chức sưu tầm tư liệu, biên soạn
cuốn sách Võ Chí Công - Tiểu sử. Đây là sản phẩm của
“Chương trình sưu tầm tài liệu, viết tiểu sử các đồng chí
lãnh đạo chủ chốt của Đảng và cách mạng Việt Nam”
theo chủ trương của Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng
sản Việt Nam.
Suốt đời phấn đấu cho lý tưởng của Đảng và cách
mạng nước ta, đồng chí Võ Chí Công có nhiều hoạt động
hết sức phong phú ở nhiều địa bàn, lĩnh vực và trên
nhiều cương vị khác nhau trong một thế kỷ. Mặc dù
nhóm tác giả đã hết sức cố gắng trong việc sưu tầm tài
liệu và biên soạn với tinh thần trách nhiệm cao, nhưng
cuốn sách Võ Chí Công - Tiểu sử khó tránh khỏi những
nhược điểm và thiếu sót. Chúng tôi rất mong bạn đọc
lượng thứ và đóng góp ý kiến để cuốn sách được hoàn
thiện hơn trong lần xuất bản sau.
Nhóm tác giả xin trân trọng cảm ơn sự chỉ đạo sát
sao của Ban Chỉ đạo và Ban Chủ nhiệm Chương trình;
các tổ chức đảng và chính quyền xã Tam Xuân I, Huyện
ủy Núi Thành, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Nam;
Quân khu 5; Cục Lưu trữ Trung ương Đảng; Trung tâm
Lưu trữ Quốc gia I, II, III, các nhà khoa học, các cộng tác
12
VÕ CHÍ CÔNG - TIỂU SỬ
viên và các cán bộ công tác cùng thời..., đặc biệt cảm ơn
gia đình đồng chí Võ Chí Công đã hết sức giúp đỡ chúng
tôi thực hiện và hoàn thiện cuốn sách này.
T/M BAN BIÊN SOẠN
CHỦ BIÊN
PGS.TS. PHẠM HỒNG CHƯƠNG
13
Chương I
QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH - TUỔI TRẺ
(1912 - 1935)
1. Quảng Nam và Tam Xuân
Đồng chí Võ Chí Công, tên khai sinh là Võ Toàn
(trong hoạt động cách mạng có bí danh Xuân, Năm
Công), sinh ngày 7-8-1912, tại làng Khương Mỹ, tổng
Phú Quý, phủ Tam Kỳ, nay thuộc xã Tam Xuân 1,
huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
Theo sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi và Đại Nam
nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, Quảng
Nam xưa “là đất Việt Thường Thị, đời Tần thuộc về
Tượng Quận, đời Hán là bờ cõi quận Nhật Nam”1. Quận
Nhật Nam có Chu Ngô và Lô Dung2. Đến năm 1474,
vua Lê Thánh Tông thành lập Quảng Nam Thừa tuyên
với ba phủ Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn gồm phần
đất phía nam sông Thu Bồn đến Bình Định ngày nay.
___________
1. Quốc sử quán triều Nguyễn, Viện Sử học: Đại Nam nhất
thống chí, Nxb. Thuận Hóa, 2006, t.II, tr.386.
2. Chu Ngô là Thừa Thiên, Lô Dung là Quảng Nam.
14
VÕ CHÍ CÔNG - TIỂU SỬ
Đó là vùng “đất đai mở rộng về phương Nam, vâng lệnh
vua để “tuyên dương đức hóa”. Đến đời vua Lê Tương
Dực (1495 - 1516), Quảng Nam Thừa tuyên đổi thành
trấn Quảng Nam.
Năm 1803, thời vua Gia Long (1762 - 1820), trấn
Quảng Nam gọi là Quảng Nam dinh. Năm 1805, lại đổi
thành Trực lệ Quảng Nam dinh trực thuộc kinh sư.
Năm 1827, vua Minh Mạng (1791 - 1840) lại đổi Quảng
Nam dinh thành trấn Quảng Nam và đến năm 1832 đổi
thành tỉnh Quảng Nam.
Đến trước Cách mạng Tháng Tám (1945), tỉnh Quảng
Nam có 4 phủ: Điện Bàn, Duy Xuyên, Thăng Bình, Tam
Kỳ và 4 huyện: Hòa Vang, Đại Lộc, Quế Sơn, Tiên Phước1.
___________
1. Sau Cách mạng Tháng Tám, Quảng Nam và Đà Nẵng
tách ra làm hai đơn vị hành chính. Tháng 11-1946, hợp nhất
thành tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Từ năm 1950 đến năm 1952,
lại là hai đơn vị hành chính độc lập. Tháng 3-1952, hợp nhất
thành tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Năm 1962, lại tách ra thành
tỉnh Quảng Nam và tỉnh Quảng Đà. Từ năm 1964 đến năm 1967,
theo chỉ đạo của Khu ủy Khu V, thành phố Đà Nẵng tách khỏi
Quảng Đà trực thuộc Khu ủy V. Tháng 11-1967, tỉnh Quảng Đà
hợp nhất với thành phố Đà Nẵng thành Đặc khu Quảng Đà.
Sau năm 1975, lại hợp nhất thành tỉnh Quảng Nam - Đà
Nẵng. Từ ngày 1-1-1997, tỉnh Quảng Nam và Đà Nẵng là hai
đơn vị hành chính: tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng.
Quảng Nam có 15 huyện. (Dẫn theo: Tỉnh ủy - Ủy ban nhân
dân tỉnh Quảng Nam và Thành ủy - Ủy ban nhân dân thành
phố Đà Nẵng: Địa chí Quảng Nam - Đà Nẵng, Nxb. Khoa học xã
hội, Hà Nội, 2010, tr.1336-1348).
Chương I: QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH - TUỔI TRẺ...
15
Định cư sinh sống ở Quảng Nam là lớp người Việt
thứ hai tiến xuống phương Nam do sự vận động của
lịch sử dân tộc1. Bởi vậy, bên cạnh việc gìn giữ những
truyền thống, phong tục tập quán căn bản của người
Việt như đoàn kết, cần cù, chịu khó trong lao động
sản xuất, tình yêu thương con người, nhân dân ở đây
cũng sáng tạo ra những nét mới trong sự giao thoa
văn hóa Việt - Chăm.
Quảng Nam được xem là vùng đất học2. Khắc phục
khó khăn, nghèo khổ để theo việc học hành là một nét
nổi bật của cộng đồng cư dân ở đây. Sách Đại Nam nhất
thống chí, trong mục phong tục tỉnh Quảng Nam ghi
rằng: “Đàn ông lo việc cày ruộng, trồng dâu, đàn bà
___________
1. Từ thời nhà Hồ, việc khai khẩn Quảng Nam được tiến
hành. Nhà Hồ hạ lệnh cho dân có của ở Nghệ An, Thuận Hóa
đem vợ con vào khai khẩn, “dân ấy phải khắc hai chữ tên châu
của mình trên cánh tay, lại mộ người có trâu bò đem nộp thì cấp
cho phẩm tước để lấy trâu phát cho dân cày”. Sau đó, con Hồ
Quý Ly là Hồ Hán Thương tiếp tục cử người chăm lo công việc
khai khẩn vùng đất này.
2. Được xem là đất học bởi Quảng Nam có danh tiếng khoa
bảng. Trong 32 khoa thi Hương ở trường thi Thừa Thiên dưới
triều Nguyễn (1817 - 1918), được ghi trong sách Quốc triều hương
khoa lục, có 911 người đăng khoa thì có tới 252 người quê ở
Quảng Nam đỗ liên tiếp cả 32 khoa thi. Về đại khoa, Quảng Nam
có 14 Tiến sĩ, 24 Phó bảng trong tổng số 558 vị trong cả nước.
(Dẫn theo Tỉnh ủy - Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam và Thành
ủy - Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng: Địa chí Quảng Nam Đà Nẵng, Sđd, tr.1349-1361).
16
VÕ CHÍ CÔNG - TIỂU SỬ
chuyên nghề nuôi tằm, dệt cửi, núi sông thanh tú cho
nên nhiều người có tư chất thông minh, dễ học”1.
Nói tới truyền thống hiếu học và khoa bảng của
Quảng Nam phải kể đến “tứ kiệt” là Nguyễn Đình Hiến,
Phan Châu Trinh, Võ Vỹ, Nguyễn Mậu Hoán đỗ Phó
bảng khoa thi Tân Sửu (1901); “tứ hổ”: Phạm Liệu,
Huỳnh Hanh (tức Huỳnh Thúc Kháng), Nguyễn Đình
Hiến và Võ Hoành cùng đỗ thủ khoa trong các khoa thi
kế tiếp nhau. Đặc biệt, Quảng Nam có “ngũ phượng tề
phi” là năm người Quảng Nam cùng đỗ khoa Mậu Tuất
(1898) với ba Tiến sĩ là Phạm Liệu, Phan Quang, Phạm
Tuấn và hai Phó bảng là Ngô Chuân (hay Ngô Lý) và
Dương Hiển Tiến2.
Nhưng nét tiêu biểu trên hết là tinh thần kiên cường,
bất khuất của nhân dân Quảng Nam trong đấu tranh
chống ngoại xâm. Ngay từ những ngày đầu khi thực dân
Pháp tiến hành xâm lược nước ta, nhân dân Quảng Nam
đã anh dũng đứng lên kháng chiến chống thực dân Pháp.
Ngày 1-9-1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha gồm 16
tàu chiến được trang bị vũ khí hiện đại tấn công Đà Nẵng;
___________
1. Đại Nam nhất thống chí, (bản thời Duy Tân), Bộ Quốc gia
giáo dục xuất bản năm 1964, t.5, tr. 15.
2. Tổng đốc Quảng Nam là Đào Tấn và Đốc học Trần Đình
Phong được tin này đã cho thợ thêu năm con chim phượng trên
một tấm thục, gồm ba con sải cánh (tượng trưng ba Tiến sĩ) và
hai con xếp cánh (tượng trưng hai Phó bảng) treo tại dinh Tổng
đốc trong buổi lễ đón các vị tân khoa này.
Chương I: QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH - TUỔI TRẺ...
17
triều đình nhà Nguyễn tổ chức lực lượng chống cự và chặn
được quân xâm lược ngoài cửa biển Đà Nẵng. Sau khi
Tổng đốc Lê Đình Lý bị trúng đạn trọng thương rồi hy
sinh, Thống chế Chu Phúc Minh lên thay; sau đó vua
Tự Đức điều Nguyễn Tri Phương, đang làm kinh lược sứ
Nam Kỳ ra chỉ huy mặt trận Đà Nẵng, thay cho Chu
Phúc Minh. Nguyễn Tri Phương chủ trương không đánh
trực diện với địch mà tiến hành bao vây, phục kích, vận
động nhân dân thực hiện vườn không nhà trống, cô lập
và triệt đường tiếp tế, cung cấp lương thực tại chỗ của
địch. Bởi vậy, đến hết năm 1858, quân địch không thể
phá vỡ thế phòng thủ của quân và dân Đà Nẵng để mở
rộng địa bàn chiếm đóng nhằm thực hiện mưu đồ đánh
nhanh thắng nhanh, nên phải chuyển hướng vào Nam
đánh Gia Định. Sau 18 tháng bị sa lầy, quân Pháp phải
rút khỏi Đà Nẵng1.
Sau khi triều đình nhà Nguyễn ký hiệp ước Patơnôt
ngày 6-6-1884 thừa nhận và chấp nhận nền bảo hộ của
nước Pháp, ngày 5-7-1885, tiếng súng chống Pháp do
Tôn Thất Thuyết khởi xướng nổ ở kinh đô Huế. Ngày
13-7, vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vương hô hào dân
chúng phò vua cứu nước. Hưởng ứng chiếu Cần vương,
dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước, quân dân cả
___________
1. Xem Tỉnh ủy - Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam và
Thành ủy - Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng: Địa chí
Quảng Nam - Đà Nẵng, Sđd, tr. 1336-1348.
18
VÕ CHÍ CÔNG - TIỂU SỬ
nước, trong đó có nhân dân Quảng Nam, đã kiên cường
đứng lên chống quân xâm lược. Tại Quảng Nam, từ
năm 1885 đến năm 1887, đã nổ ra cuộc đấu tranh vũ
trang do Tiến sĩ Trần Văn Dư, Phó bảng Nguyễn Duy
Hiệu, Cử nhân Phan Bá Phiến, Ấm sinh Nguyễn Thành
(Tiểu La) lãnh đạo. Các ông lập Nghĩa hội kêu gọi nhân
dân chống lại quân triều đình đầu hàng và quân đội
Pháp. Tiến sĩ Trần Văn Dư được bầu làm Thủ lĩnh hội.
Tháng 8-1885, ông ra bản cáo thị kêu gọi nhân dân
Quảng Nam đáp nghĩa Cần Vương, chống thực dân
Pháp. Ngày 4-9-1885, nghĩa quân bao vây chiếm tỉnh
thành La Qua buộc Bố chính Bùi Tiến Tiên và Tuần
phủ Nguyễn Ngoạn phải dẫn quân rút chạy. Quân
Pháp và triều đình phản công vào các căn cứ của nghĩa
quân, nghĩa quân bị thất thủ. Trần Văn Dư dùng kế
“giải binh quy điền” nhằm bảo toàn lực lượng, tính kế
lâu dài. Tháng 12-1885, giao binh quyền cho Nguyễn
Duy Hiệu, ông đi Huế định gặp vua Đồng Khánh (ông
vốn là phụ đạo giảng tập cho Đồng Khánh) để tìm cách
giải thoát khó khăn cho Nghĩa hội. Nhưng khi qua La
Thành gặp quyền Tổng đốc Quảng Nam là Châu Đình
Kế, ông bị bắt và bị bắn ngày 13-12-1885.
Nguyễn Duy Hiệu nắm Nghĩa hội đã lấy thung
lũng Trung Lộc (Quế Sơn) làm tổng hành dinh, gọi là
Tân tỉnh Trung Lộc và tổ chức đánh nhiều trận, gây
cho đối phương nhiều thiệt hại. Quân Pháp và triều
đình bao vây và đánh thẳng vào tổng hành dinh. Biết
Chương I: QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH - TUỔI TRẺ...
19
không cầm cự được, nghĩa quân vượt vây chạy về gần
cửa biển An Hòa (Tam Kỳ). Không để nghĩa quân bị
giết hại, Phan Bá Phiến uống thuốc độc tự sát để tránh
bị bắt, Nguyễn Duy Hiệu tự trói mình nạp mạng cho
đối phương để nhận lãnh hết trách nhiệm về mình
(ngày 21-9-1887). Triều đình dụ hàng, Nguyễn Duy
Hiệu không nghe và bị tử hình vào ngày 15-10-1887.
Bất chấp tương quan lực lượng chênh lệch và sự đàn
áp tàn bạo của thực dân Pháp và triều đình phong kiến,
nhân dân Quảng Nam luôn nêu cao ý chí kiên cường,
bất khuất chiến đấu chống lại kẻ thù.
Bên cạnh hình thức đấu tranh vũ trang, ở Quảng
Nam cũng xuất hiện một hình thức đấu tranh mới chống
thực dân Pháp xâm lược và chế độ phong kiến tay sai.
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, dưới tác động của tư
tưởng dân chủ phương Tây và những biến đổi của xã hội
trong nước, ở nước ta xuất hiện một xu hướng cứu nước
mới là phong trào Duy Tân được khởi xướng ở miền Trung
bởi các sĩ phu yêu nước Quảng Nam là Phan Châu Trinh,
Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng. Các lãnh tụ phong
trào chủ trương bất bạo động, khôi phục đất nước bằng
con đường “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” nâng cao dân trí, cải tổ xã hội về kinh tế, giáo dục và văn
hóa, với các hoạt động thực tiễn như mở mang kinh tế, lập
các nhà buôn lớn để tự lực, mở trường dạy học chữ quốc
ngữ, bỏ lối học khoa bảng từ chương, chú trọng khoa học
20
VÕ CHÍ CÔNG - TIỂU SỬ
và ngoại ngữ cũng như hướng đến nền chính trị dân chủ.
Một cuộc cách mạng về lối sống như cắt tóc ngắn, mặc Âu
phục cũng được thúc đẩy. Khởi đầu năm 1905, phong trào
Duy Tân tác động mạnh mẽ đến tinh thần yêu nước của
nhân dân cả nước, nhất là ở Quảng Nam, quê hương của
các lãnh tụ phong trào.
Đầu tháng 3-1908, ở Quảng Nam đã bùng nổ một
hình thức đấu tranh mới, khởi đầu cho phong trào
chống thuế, xuất phát từ huyện Đại Lộc rồi lan nhanh
tới các phủ, huyện trong tỉnh và kéo dài hơn một tháng
ở Quảng Nam và các tỉnh khác ở Trung Kỳ. Khi thực
dân Pháp mở rộng đường từ huyện Đại Lộc đi tỉnh lỵ,
nhân việc phu làm đường phản đối tri huyện ăn hối lộ,
các ông Trương Hoành, Lương Châu, Hứa Tạo, Trương
Tổn, Trương Côn, Trương Đính,... đã bàn nhau làm đơn
lấy chữ ký của dân ở các làng xã trong huyện để trình
huyện chuyển lên Tòa sứ tỉnh xin giảm nhẹ sưu, thuế.
Đêm 9-3, người dân tập hợp tại đình làng Hoằng
Phước. Sáng 10-3, họ đi tới trụ sở tổng Đức Hòa. Ngày
11-3, đoàn người đi lên tỉnh đòi bỏ lệ đi xâu và giảm
thuế. Nhân dân dọc đường tham gia ngày một đông.
Công sứ Pháp ra lệnh đàn áp nhưng không giải tán
được đoàn biểu tình. Khi Tòa sứ hứa cách chức tri
huyện, không tăng sưu, thuế nữa, đoàn biểu tình mới
giải tán dần. Cuộc biểu tình chống thuế kéo dài hơn
một tháng với sự hưởng ứng của nhân dân trong tỉnh.
Công sứ Pháp phải ra lệnh giới nghiêm và tăng cường
lính cho các phủ, huyện để đàn áp biểu tình.
Chương I: QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH - TUỔI TRẺ...
21
Nguyễn Tất Thành (Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này)
đã tham gia phong trào chống thuế ở Huế. Đây là hoạt
động có tính chất chính trị, yêu nước đầu tiên của Người.
Tất cả những hình thức đấu tranh trên tuy bị thất
bại nhưng sự nối tiếp của các phong trào này đã biểu
thị ý chí tự cường dân tộc, góp phần duy trì ngọn lửa
yêu nước và tinh thần đấu tranh anh dũng vì độc lập,
tự do của dân tộc ta cũng như nhân dân Quảng Nam
không bao giờ tàn lụi. Ý chí, tinh thần đó đã tác động
mạnh mẽ đến mọi lớp người Quảng Nam sau này.
Tiếp theo những cuộc vận động yêu nước dồn dập đầu
thế kỷ XX là phong trào đòi thả Phan Bội Châu (1925) và
để tang Phan Châu Trinh (1926), sau đó ở Quảng Nam lại
xuất hiện những hình thức đấu tranh mới như bãi khóa
của học sinh Đà Nẵng (1926) và Hội An (1927).
Năm 1927, Ban vận động Hội Việt Nam Cách mạng
Thanh niên Quảng Nam được thành lập1. Tháng 9-1927,
Chi bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên Đà Nẵng ra
đời và phát triển nhanh chóng. Tháng 10-1927, ở Hội An,
một chi bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên cũng được
thành lập do Phan Thêm (Cao Hồng Lãnh) làm Bí thư.
Trên cơ sở phát triển của các chi bộ, đầu năm 1928, Ban
___________
1. Ban này được thành lập (do phái viên của Hội Việt Nam
Cách mạng Thanh niên là Đỗ Quang vận động) gồm các thành
viên người Quảng Nam: Đỗ Quang, Đỗ Quỳ, Lê Quang Sung,
Phan Long, Thái Thị Bôi. Trường Cự Tùng được lấy làm nơi liên
lạc, hoạt động của Ban (Dẫn theo: Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà
Nẵng: Lịch sử Đảng bộ Quảng Nam - Đà Nẵng (1930 - 1975)
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 67).
22
VÕ CHÍ CÔNG - TIỂU SỬ
Chấp hành Tỉnh bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên
Quảng Nam được thành lập1.
Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Quảng Nam
là cơ sở cho sự xuất hiện của Đảng bộ Quảng Nam Đông
Dương Cộng sản Đảng (tháng 9-1929). Sau khi Đảng Cộng
sản Việt Nam ra đời (3-2-1930), ngày 28-3-1930, Ban
Chấp hành lâm thời Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam
tỉnh Quảng Nam đã được thành lập và ngày 1-5-1930, chi
bộ cộng sản đầu tiên ở Tam Kỳ cũng ra đời. Cùng với sự
xuất hiện của hệ thống tổ chức này là các hoạt động tuyên
truyền theo con đường cách mạng vô sản, trở thành xu
hướng chính của phong trào cách mạng ở Quảng Nam.
Trong lịch sử, Tam Xuân2 là một xã đồng bằng của
huyện Tam Kỳ3 cách thành phố Tam Kỳ 3km về phía bắc4.
___________
1. Gồm: Đỗ Quang, Phan Thêm, Nguyễn Tường, Nguyễn Thái,
Phan Long, Thái Thị Bôi, Lê Văn Hiến do Đỗ Quang làm Bí thư.
2. Năm 1983, huyện Tam Kỳ chia thành huyện Tam Kỳ và
huyện Núi Thành. Tam Xuân thuộc huyện Núi Thành. Năm
1994, Tam Xuân chia thành xã Tam Xuân 1 và xã Tam Xuân 2.
3. Địa danh Tam Kỳ có xuất xứ như sau: năm 1841, phủ
Thăng Hoa được vua Thiệu Trị đổi thành phủ Thăng Bình; năm
1906 (năm Thành Thái thứ 18), huyện Hà Đông đổi thành phủ
Hà Đông, sau đổi thành phủ Tam Kỳ.
4. Theo đúng tiến trình lịch sử tương ứng với hoạt động của
đồng chí Võ Chí Công, nhóm biên soạn sử dụng địa danh lịch sử
theo vùng địa lý tương ứng là phủ (huyện) Tam Kỳ. Vì đến năm
1983, huyện Núi Thành mới thành lập và là phần đất phía nam
của huyện Tam Kỳ nên có chung lịch sử của Tam Kỳ.
Chương I: QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH - TUỔI TRẺ...
23
Phía đông, Tam Xuân giáp xã Tam Tiến; phía tây,
giáp hồ thủy nông Phú Ninh và xã Tam Thạnh; phía
nam, giáp xã Tam Anh Bắc; phía bắc, giáp thành phố
Tam Kỳ.
Lịch sử hình thành vùng đất Tam Xuân gắn liền với
hiện tượng biến động lần thứ ba của vùng đất Tam Kỳ,
với sự thay đổi từ ao hồ, sông đầm trở thành đồng
ruộng. Từ đó, Tam Xuân được chia thành hai vùng chủ
yếu: vùng đồng bằng phía đông quốc lộ 1A bị chia cắt
bởi nhiều hồ, ao trũng, vũng, đầm, với những tên gọi
như Bàu Dũ, Bàu Nê, Bàu Sen...; vùng đất phía tây của
xã, phía trên quốc lộ 1A, là các dãy đồng bằng nhỏ hẹp,
đất đỏ khô cằn, xen kẽ các dãy núi thấp từ tây sang
đông, giáp với vùng đồi núi của xã Tam Thanh, chiếm
khoảng 25% diện tích tự nhiên toàn xã, gắn liền với các
tục danh như núi Bà Ty, núi Trà Quân, núi đất Vĩnh
An, núi Đèo Dài (Dôn Thành)...
Thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung
bình hằng năm ở Tam Xuân là 25,5oC; lượng mưa
trung bình 2.050mm và phân bố không đều trong
năm với độ ẩm trung bình là 83 - 85%. Bão, lũ thường
xuất hiện, gây thiệt hại nhất là vào các tháng Chín và
Mười âm lịch.
Đầu thế kỷ XX, hệ thống giao thông của Tam Xuân
chưa được đầu tư phát triển, việc đi lại trong xã chủ yếu
bằng đường đất với phương tiện thô sơ. Bị bao quanh
24
VÕ CHÍ CÔNG - TIỂU SỬ
bởi sông ngòi và đầm lầy nên giao thông đường bộ ở đây
bị hạn chế vào mùa mưa. Nhưng vì có đường thiên lý
Bắc - Nam1 đi qua nên đã tạo điều kiện thuận lợi cho
Tam Xuân trong giao lưu, buôn bán với các địa phương
trong vùng cũng như các trung tâm thương mại An
Tân, Tam Kỳ2. Từ năm 1936, tuyến đường sắt Bắc Nam do thực dân Pháp xây dựng và đưa vào khai thác
đi qua Tam Xuân đã giúp cho việc đi lại, giao thương
thuận lợi hơn, tạo điều kiện để Tam Xuân phát triển về
các mặt kinh tế, văn hóa...
Sông Bà Bầu3 ở phía tây nam Tam Xuân, bắt
nguồn từ núi Diêng Bông qua Bà Ty và núi Mã Yên,
là ranh giới giữa xã Tam Xuân và xã Tam Anh Bắc.
Phía bắc xã có sông Tam Kỳ, là nơi giáp ranh giữa
Tam Xuân và các phường An Sơn, Hoà Hương, xã
Tam Ngọc (thành phố Tam Kỳ). Sông Bà Bầu và
sông Tam Kỳ hợp lưu với sông Trường Giang, do đó
việc đi lại, buôn bán bằng đường thủy đến Tam Kỳ,
Hội An khá thuận lợi.
Với hệ thống giao thông như vậy, lại gần ngã ba
Tam Kỳ, nên Tam Xuân có nhiều thuận lợi trong giao
lưu, phát triển kinh tế, văn hoá. Nhưng do thổ nhưỡng ở
đây bạc màu, nên khả năng phát triển nông nghiệp có hạn.
___________
1. Nay là quốc lộ 1A.
2. Là phần đất thuộc xã Tam Nghĩa, nay là thị trấn Núi Thành.
3. Còn gọi là sông Trường Đồng, sông Ba Túc.
Chương I: QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH - TUỔI TRẺ...
25
Vì vậy, nhân dân Tam Xuân phải không ngừng khắc
phục mọi khó khăn trong sản xuất và tìm phương thức
thích hợp để bảo đảm cuộc sống của mình.
Cũng như nhiều địa phương khác ở Trung Trung
Bộ, cư dân đến định cư, lập nghiệp ở Tam Xuân chủ
yếu có nguồn gốc từ các tỉnh Bắc Trung Bộ (nhất là
Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh)... vào mở đất, lập làng,
tập trung theo ba đợt lớn dưới thời nhà Hồ, nhà Lê và
các chúa Nguyễn. Gia phả của các tộc họ địa phương
cho thấy các họ Mai, Nguyễn, Trần, Lê, Đỗ... vào khai
khẩn vùng đất này sớm nhất và đều là người gốc Nghệ
An di cư đến Tam Xuân vào khoảng nửa cuối thế kỷ XV.
Đặc biệt, cư dân vùng Bắc Trung Bộ di cư vào đây
nhiều nhất dưới thời Trịnh - Nguyễn (khoảng nửa cuối
thế kỷ XVIII). Phần lớn trong số họ là nông dân nghèo,
không có ruộng đất, phải đi khai hoang theo chế độ
binh điền, hoặc là những người do chống lại triều đình
phong kiến nên bị bắt lưu đày, hay muốn tránh cuộc
nội chiến tương tàn dưới thời Trịnh - Nguyễn... Bởi
vậy, họ đều oán ghét chế độ phong kiến thối nát và
chiến tranh cát cứ.
Trước những khó khăn, khắc nghiệt của điều
kiện tự nhiên, nhân dân Tam Xuân đã phát huy tinh
thần lao động cần cù, đoàn kết đấu tranh, dần dần
khai phá vùng đất khô cằn này, tạo dựng thành xóm
26
VÕ CHÍ CÔNG - TIỂU SỬ
làng, ổn định cuộc sống. Do vậy, bên cạnh những đặc
tính truyền thống của người Việt, con người nơi đây
cũng hình thành những tính cách riêng mạnh mẽ và
thực tế.
Hoạt động kinh tế của Tam Xuân chủ yếu là sản
xuất nông nghiệp nhỏ, tự cấp, tự túc, lệ thuộc khá
nhiều vào tự nhiên. Lúa là cây lương thực chính ở đây,
nhưng phần lớn diện tích trồng lúa (vụ đông) dựa vào
nước mưa và nguồn nước tự nhiên ở các hồ, đập. Để
khắc phục sự khắc nghiệt của thiên nhiên, nhân dân
Tam Xuân đã tận dụng các hồ nước tự nhiên trên địa
bàn và xây dựng hệ thống kênh mương dẫn nước về các
cánh đồng Bàu Dũ, Bàu Ốc, Bàu Nê... nhưng vào những
năm khô hạn, lượng nước không đủ, làm cho năng suất
lúa rất thấp. Tuy nhiên, các loại hoa màu như lạc, vừng
lại phù hợp với thổ nhưỡng và khí hậu nên năng suất
khá ổn định.
Trước năm 1930, nông dân chỉ có khoảng 1% ruộng
đất, còn lại nằm trong tay địa chủ, phú nông. Do vậy,
vào những lúc nông nhàn, nhân dân thường rủ nhau đi
mua khoai, sắn, lạc ở khắp nơi về bán kiếm lời và tổ
chức ép dầu lạc để bán. Nghề ép dầu lạc phát triển nhất
ở khu vực các thôn Khương Mỹ, Bích Ngô.
Chăn nuôi hộ gia đình chủ yếu là trâu, bò để lấy sức
kéo và phân bón cho sản xuất. Chăn nuôi gia cầm chỉ để
đáp ứng nhu cầu thực phẩm hằng ngày. Những người
Chương I: QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH - TUỔI TRẺ...
27
dân sống dọc theo sông Trường Giang có nghề đánh bắt
thủy sản bằng những dụng cụ thô sơ nên sản lượng
thấp, chủ yếu phục vụ bữa ăn gia đình và để trao đổi
các mặt hàng thiết yếu cho đời sống.
Giao thương hàng hóa ở Tam Xuân phát triển từ
khá sớm. Từ thời Gia Long, ở đây đã hình thành quán
Khương Mỹ1, sau mở rộng thành xóm quán chạy dài từ
đầu cầu Tam Kỳ đến khu vực cống Trắng. Đây là nơi
giao lưu, buôn bán với các địa phương khác thông qua
đường bộ và đường sông Tam Kỳ. Chợ Bà Bầu (thôn Bà
Bầu) được hình thành dưới thời Pháp thuộc, là nơi buôn
bán, trao đổi hàng hóa với các xã trong vùng như Vân
Trai (xã Tam Hiệp), Diêm Phổ (xã Tam Anh Nam), An
Hòa (xã Tam Hải), Tam Hà (xã Tam Tiến), An Tân (nay
thuộc thị trấn Núi Thành)...2.
Ngoài ra, ở Tam Xuân còn có một số người hành
nghề thuốc đông y, thợ cắt tóc, thợ may, thợ mộc. Do
những khó khăn, thanh niên Tam Xuân thường đi làm
ăn xa quê tới các đô thị, đồn điền,...
Tín ngưỡng ở Tam Xuân chủ yếu là thờ cúng ông bà,
tổ tiên. Làng nào cũng có đình thờ thành hoàng hoặc
___________
1. Nay thuộc thôn Khương Mỹ, xã Tam Xuân 1.
2. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, chợ Bà Bầu đáp
ứng yêu cầu trao đổi hàng hóa thiết yếu của nhân dân trong
vùng và cung ứng các mặt hàng phục vụ kháng chiến.
28
VÕ CHÍ CÔNG - TIỂU SỬ
thờ tiền hiền có công khai cơ, lập nghiệp1. Đình làng
Vĩnh An2, đình làng Phú Hưng3 được nhân dây xây
dựng để làm nơi thờ tự các vị tiền nhân đã có công khai
phá vùng đất này. Đặc biệt, giỗ Tổ Hùng Vương và cúng
tiền hiền hằng năm đúng vào ngày 10 tháng Ba âm lịch
hoặc vào dịp đầu năm mới. Trước năm 1930, Tam Xuân
chỉ có một ngôi chùa nhỏ ở thôn Trường An.
Tam Xuân là vùng đất vốn thuộc địa bàn cư trú của
người Chăm từ xa xưa, gắn với nhiều di tích lịch sử văn hóa đặc sắc và phong phú như di tích Bàu Dũ, di
tích Tam Mỹ, tháp Khương Mỹ4. Bởi vậy, các phong tục
___________
1. Đến năm 1936, đạo Tin lành xuất hiện tập trung ở các
làng Phú Hưng, Vĩnh An (Tam Xuân) nhưng không có nhà thờ.
Tín đồ sinh hoạt cùng tín hữu Tin lành ở Tam Kỳ.
2. Đình làng Vĩnh An (xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ XV)
thờ Mai Vă...
GIÁM ĐỐC - TỔNG BIÊN TẬP
PGS.TS. PHẠM MINH TUẤN
Chịu trách nhiệm nội dung
PHÓ GIÁM ĐỐC - PHÓ TỔNG BIÊN TẬP
ThS. PHẠM THỊ THINH
Biên tập nội dung:
Trình bày bìa:
Chế bản vi tính:
Đọc sách mẫu:
ThS. CHU VĂN KHÁNH
ThS. PHẠM NGỌC BÍCH
ThS. NGUYỄN THỊ HẢI BÌNH
ThS. NGUYỄN THỊ THÚY
ThS. ĐÀO QUỲNH HOA
ThS. NGUYỄN VIỆT HÀ
NGUYỄN MẠNH HÙNG
PHẠM THU HÀ
NGUYỄN THỊ THÚY
BÙI BỘI THU
5
BAN CHỈ ĐẠO CHƯƠNG TRÌNH
LÊ HỒNG ANH
Trưởng ban
TÔ HUY RỨA
Ủy viên
ĐINH THẾ HUYNH
Ủy viên
TRẦN QUỐC VƯỢNG
Ủy viên
TẠ NGỌC TẤN
Ủy viên
BAN CHỦ NHIỆM CHƯƠNG TRÌNH
TẠ NGỌC TẤN
Chủ nhiệm
PHẠM NGỌC ANH
Phó Chủ nhiệm thường trực
LÊ QUANG VĨNH
Ủy viên
HOÀNG PHONG HÀ
Ủy viên
TRẦN MINH TRƯỞNG
Ủy viên
BAN BIÊN SOẠN
PGS.TS. PHẠM HỒNG CHƯƠNG (Chủ biên)
PGS.TS. TRẦN MINH TRƯỞNG
PGS.TS. NGUYỄN DANH TIÊN
PGS.TS. ĐỖ XUÂN TUẤT
TS. NGUYỄN THẮNG LỢI
ThS. TRẦN THỊ NHUẦN
ThS. ĐINH NGỌC QUÝ
ThS. NGUYỄN TUYẾT HẠNH
ThS. NGUYỄN VĂN HÒA
CN. VÕ MINH QUYẾT
CN. LÊ MINH CHIẾN
6
CỘNG TÁC VIÊN
ThS. NGÔ XUÂN DƯƠNG
PGS.TS. TRỊNH THỊ HỒNG HẠNH
ThS. LÊ THỊ HIỀN
ThS. LÊ THỊ HẰNG
TS. LÊ THỊ THU HỒNG
ThS. TRẦN THỊ HỢI
ThS. TRẦN THỊ HUYỀN
ThS. TRẦN VĂN KHÔI
ThS. ĐỖ VĂN PHƯƠNG
ThS. CHU LAM SƠN
TS. ĐẶNG VĂN THÁI
TS.NGUYỄN XUÂN TRUNG
TS. NGUYỄN THỊ XUÂN
TS. TRẦN THỊ VUI
TS. NGUYỄN THỊ LƯƠNG UYÊN
Viện Hồ Chí Minh và các
lãnh tụ của Đảng
Viện Lịch sử Đảng
Viện Hồ Chí Minh và các
lãnh tụ của Đảng
Viện Hồ Chí Minh và các
lãnh tụ của Đảng
Viện Hồ Chí Minh và các
lãnh tụ của Đảng
Viện Hồ Chí Minh và các
lãnh tụ của Đảng
Viện Hồ Chí Minh và các
lãnh tụ của Đảng
Viện Hồ Chí Minh và các
lãnh tụ của Đảng
Viện Lịch sử Đảng
Viện Hồ Chí Minh và các
lãnh tụ của Đảng
Viện Hồ Chí Minh và các
lãnh tụ của Đảng
Viện Hồ Chí Minh và các
lãnh tụ của Đảng
Viện Lịch sử Đảng
Viện Lịch sử Đảng
Viện Hồ Chí Minh và các
lãnh tụ của Đảng
Ngoài ra còn nhiều cộng tác viên khác tham gia
viết bài cho hai Hội thảo khoa học
7
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Võ Chí Công - người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, người chiến sĩ cộng sản kiên cường, bất khuất, nhà lãnh
đạo tài năng của Đảng và Nhà nước ta. Cuộc đời và sự nghiệp của
đồng chí Võ Chí Công gắn liền với quá trình cách mạng và những
sự kiện lịch sử vô cùng quan trọng của Đảng và nhân dân ta.
Đồng chí Võ Chí Công, tên khai sinh là Võ Toàn, sinh
ngày 7-8-1912, tại xã Tam Xuân, huyện Tam Kỳ, tỉnh Quảng
Nam - Đà Nẵng (nay là huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam).
Được thừa hưởng truyền thống yêu nước của quê hương và
gia đình, đồng chí đã sớm giác ngộ cách mạng. Năm 1930,
đồng chí tham gia phong trào đoàn thanh niên cơ sở; tháng
5-1935, được kết nạp Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là
Đảng Cộng sản Việt Nam), từ đó, đồng chí tích cực, vượt qua
mọi khó khăn, gian khổ, bám dân, bám địa bàn, hòa mình
vào phong trào cách mạng trong những năm tháng gian khổ,
hào hùng từ thời kỳ tiền khởi nghĩa, kháng chiến chống thực
dân Pháp (1946 - 1954) đến cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ
và bè lũ tay sai ở chiến trường Khu V ác liệt với các trận
thắng lịch sử,... tạo đà thắng lợi cho cuộc Tổng tiến công và
nổi dậy mùa xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam,
thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Sau ngày đất nước thống nhất, với uy tín và nhiệt thành
hết lòng phụng sự đất nước, đồng chí Võ Chí Công được giao
8
VÕ CHÍ CÔNG - TIỂU SỬ
nhiều chức vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước: Ủy viên Bộ
Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng, Phó
Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng,
Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Hội đồng Quốc
phòng,... Dù ở bất kỳ cương vị công tác nào đồng chí cũng
luôn trung thành tuyệt đối với mục tiêu, lý tưởng cách mạng,
luôn phấn đấu hết mình để giữ gìn, tăng cường sự đoàn kết,
thống nhất trong Đảng, sự gắn bó máu thịt giữa Đảng và
nhân dân; sống giản dị, khiêm tốn, được đồng chí, đồng bào
quý mến, tin cậy; được bạn bè quốc tế trân trọng.
Để ghi nhớ những đóng góp to lớn của đồng chí Võ Chí
Công đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc,
qua đó góp phần tuyên truyền, giáo dục truyền thống yêu
nước và cách mạng cho toàn Đảng, toàn dân, đặc biệt là thế
hệ trẻ, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản
cuốn sách Võ Chí Công - Tiểu sử do Viện Hồ Chí Minh và các
lãnh tụ của Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
biên soạn, nằm trong Chương trình sưu tầm tài liệu, viết tiểu
sử các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng và cách mạng
Việt Nam. Nội dung cuốn sách khắc họa rõ nét cuộc đời, sự
nghiệp cách mạng của đồng chí Võ Chí Công, là những tư
liệu quý giá giúp cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân
hiểu hơn về nhà lãnh đạo chủ chốt xuất sắc của Đảng và cách
mạng Việt Nam.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
Tháng 10 năm 2019
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
9
LỜI NÓI ĐẦU
Một trăm năm tuổi đời, với 77 năm phấn đấu không
ngừng nghỉ dưới ngọn cờ của Đảng cho sự nghiệp vì độc
lập dân tộc, thống nhất đất nước và đổi mới, đồng chí
Võ Chí Công là một tấm gương sáng của người cộng sản
kiên trung, nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước tài năng,
một học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Sinh ra trong một gia đình giàu lòng yêu nước, đồng
chí Võ Chí Công đã sớm giác ngộ và trở thành một
chiến sĩ cộng sản kiên cường, đóng góp tích cực và to lớn
vào quá trình phát triển của cách mạng nước ta. Vượt
qua mọi khó khăn, gian khổ trong hoạt động cách mạng
và nơi ngục tù đế quốc, trải qua hai cuộc kháng chiến
đầy cam go, trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ xâm lược, tới sự nghiệp đổi mới trong xây dựng và
bảo vệ đất nước, tên tuổi và sự nghiệp của đồng chí mãi
mãi được ghi vào lịch sử vẻ vang của Đảng và dân tộc.
Cùng với tiến trình phấn đấu vì độc lập dân tộc và
tự do, hạnh phúc của nhân dân, đồng chí Võ Chí Công
đã từng bước trưởng thành, phát triển, được Đảng và
10
VÕ CHÍ CÔNG - TIỂU SỬ
Nhà nước trao nhiều trọng trách: Bí thư Chi bộ ghép
(một số xã thuộc huyện Tam Kỳ), Bí thư Phủ ủy Tam
Kỳ, Bí thư Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Quảng Nam, Phó Bí
thư và Bí thư Liên khu ủy V, Phó Bí thư Trung ương
Cục miền Nam, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương
Đảng, Bí thư Khu ủy V, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ
tướng, Thường trực Ban Bí thư, Phó Chủ tịch Hội đồng
Bộ trưởng, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Hội
đồng Quốc phòng,...
Trên bất kỳ cương vị nào, đồng chí Võ Chí Công cũng
thể hiện tinh thần cách mạng, tài năng, phẩm chất đạo
đức của một người cộng sản, một nhà lãnh đạo luôn vì lợi
ích của Tổ quốc và nhân dân. Đảng ta đã khẳng định:
đồng chí Võ Chí Công là một “chiến sĩ cộng sản kiên
cường, suốt đời phấn đấu cho độc lập, tự do của dân tộc,
vì hạnh phúc của nhân dân và vì lý tưởng cộng sản”;
“một nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng và Nhà nước ta”,
“một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí
Minh” mà cuộc đời “gắn liền với quá trình cách mạng và
những sự kiện lịch sử vô cùng quan trọng của Đảng và
nhân dân ta”1.
___________
1. Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương do đồng chí
Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương
Đảng, Trưởng ban lễ tang đọc tại Lễ truy điệu đồng chí Võ Chí
Công, ngày 12-9-2011, Báo Nhân Dân, số ra ngày 13-9-2011.
LỜI NÓI ĐẦU
11
Để ghi nhận những cống hiến to lớn của đồng chí Võ
Chí Công đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân
tộc, đồng thời giáo dục truyền thống yêu nước, đấu
tranh cách mạng anh dũng, kiên cường của thế hệ cha
anh, nhóm tác giả đã tổ chức sưu tầm tư liệu, biên soạn
cuốn sách Võ Chí Công - Tiểu sử. Đây là sản phẩm của
“Chương trình sưu tầm tài liệu, viết tiểu sử các đồng chí
lãnh đạo chủ chốt của Đảng và cách mạng Việt Nam”
theo chủ trương của Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng
sản Việt Nam.
Suốt đời phấn đấu cho lý tưởng của Đảng và cách
mạng nước ta, đồng chí Võ Chí Công có nhiều hoạt động
hết sức phong phú ở nhiều địa bàn, lĩnh vực và trên
nhiều cương vị khác nhau trong một thế kỷ. Mặc dù
nhóm tác giả đã hết sức cố gắng trong việc sưu tầm tài
liệu và biên soạn với tinh thần trách nhiệm cao, nhưng
cuốn sách Võ Chí Công - Tiểu sử khó tránh khỏi những
nhược điểm và thiếu sót. Chúng tôi rất mong bạn đọc
lượng thứ và đóng góp ý kiến để cuốn sách được hoàn
thiện hơn trong lần xuất bản sau.
Nhóm tác giả xin trân trọng cảm ơn sự chỉ đạo sát
sao của Ban Chỉ đạo và Ban Chủ nhiệm Chương trình;
các tổ chức đảng và chính quyền xã Tam Xuân I, Huyện
ủy Núi Thành, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Nam;
Quân khu 5; Cục Lưu trữ Trung ương Đảng; Trung tâm
Lưu trữ Quốc gia I, II, III, các nhà khoa học, các cộng tác
12
VÕ CHÍ CÔNG - TIỂU SỬ
viên và các cán bộ công tác cùng thời..., đặc biệt cảm ơn
gia đình đồng chí Võ Chí Công đã hết sức giúp đỡ chúng
tôi thực hiện và hoàn thiện cuốn sách này.
T/M BAN BIÊN SOẠN
CHỦ BIÊN
PGS.TS. PHẠM HỒNG CHƯƠNG
13
Chương I
QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH - TUỔI TRẺ
(1912 - 1935)
1. Quảng Nam và Tam Xuân
Đồng chí Võ Chí Công, tên khai sinh là Võ Toàn
(trong hoạt động cách mạng có bí danh Xuân, Năm
Công), sinh ngày 7-8-1912, tại làng Khương Mỹ, tổng
Phú Quý, phủ Tam Kỳ, nay thuộc xã Tam Xuân 1,
huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
Theo sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi và Đại Nam
nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, Quảng
Nam xưa “là đất Việt Thường Thị, đời Tần thuộc về
Tượng Quận, đời Hán là bờ cõi quận Nhật Nam”1. Quận
Nhật Nam có Chu Ngô và Lô Dung2. Đến năm 1474,
vua Lê Thánh Tông thành lập Quảng Nam Thừa tuyên
với ba phủ Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn gồm phần
đất phía nam sông Thu Bồn đến Bình Định ngày nay.
___________
1. Quốc sử quán triều Nguyễn, Viện Sử học: Đại Nam nhất
thống chí, Nxb. Thuận Hóa, 2006, t.II, tr.386.
2. Chu Ngô là Thừa Thiên, Lô Dung là Quảng Nam.
14
VÕ CHÍ CÔNG - TIỂU SỬ
Đó là vùng “đất đai mở rộng về phương Nam, vâng lệnh
vua để “tuyên dương đức hóa”. Đến đời vua Lê Tương
Dực (1495 - 1516), Quảng Nam Thừa tuyên đổi thành
trấn Quảng Nam.
Năm 1803, thời vua Gia Long (1762 - 1820), trấn
Quảng Nam gọi là Quảng Nam dinh. Năm 1805, lại đổi
thành Trực lệ Quảng Nam dinh trực thuộc kinh sư.
Năm 1827, vua Minh Mạng (1791 - 1840) lại đổi Quảng
Nam dinh thành trấn Quảng Nam và đến năm 1832 đổi
thành tỉnh Quảng Nam.
Đến trước Cách mạng Tháng Tám (1945), tỉnh Quảng
Nam có 4 phủ: Điện Bàn, Duy Xuyên, Thăng Bình, Tam
Kỳ và 4 huyện: Hòa Vang, Đại Lộc, Quế Sơn, Tiên Phước1.
___________
1. Sau Cách mạng Tháng Tám, Quảng Nam và Đà Nẵng
tách ra làm hai đơn vị hành chính. Tháng 11-1946, hợp nhất
thành tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Từ năm 1950 đến năm 1952,
lại là hai đơn vị hành chính độc lập. Tháng 3-1952, hợp nhất
thành tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Năm 1962, lại tách ra thành
tỉnh Quảng Nam và tỉnh Quảng Đà. Từ năm 1964 đến năm 1967,
theo chỉ đạo của Khu ủy Khu V, thành phố Đà Nẵng tách khỏi
Quảng Đà trực thuộc Khu ủy V. Tháng 11-1967, tỉnh Quảng Đà
hợp nhất với thành phố Đà Nẵng thành Đặc khu Quảng Đà.
Sau năm 1975, lại hợp nhất thành tỉnh Quảng Nam - Đà
Nẵng. Từ ngày 1-1-1997, tỉnh Quảng Nam và Đà Nẵng là hai
đơn vị hành chính: tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng.
Quảng Nam có 15 huyện. (Dẫn theo: Tỉnh ủy - Ủy ban nhân
dân tỉnh Quảng Nam và Thành ủy - Ủy ban nhân dân thành
phố Đà Nẵng: Địa chí Quảng Nam - Đà Nẵng, Nxb. Khoa học xã
hội, Hà Nội, 2010, tr.1336-1348).
Chương I: QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH - TUỔI TRẺ...
15
Định cư sinh sống ở Quảng Nam là lớp người Việt
thứ hai tiến xuống phương Nam do sự vận động của
lịch sử dân tộc1. Bởi vậy, bên cạnh việc gìn giữ những
truyền thống, phong tục tập quán căn bản của người
Việt như đoàn kết, cần cù, chịu khó trong lao động
sản xuất, tình yêu thương con người, nhân dân ở đây
cũng sáng tạo ra những nét mới trong sự giao thoa
văn hóa Việt - Chăm.
Quảng Nam được xem là vùng đất học2. Khắc phục
khó khăn, nghèo khổ để theo việc học hành là một nét
nổi bật của cộng đồng cư dân ở đây. Sách Đại Nam nhất
thống chí, trong mục phong tục tỉnh Quảng Nam ghi
rằng: “Đàn ông lo việc cày ruộng, trồng dâu, đàn bà
___________
1. Từ thời nhà Hồ, việc khai khẩn Quảng Nam được tiến
hành. Nhà Hồ hạ lệnh cho dân có của ở Nghệ An, Thuận Hóa
đem vợ con vào khai khẩn, “dân ấy phải khắc hai chữ tên châu
của mình trên cánh tay, lại mộ người có trâu bò đem nộp thì cấp
cho phẩm tước để lấy trâu phát cho dân cày”. Sau đó, con Hồ
Quý Ly là Hồ Hán Thương tiếp tục cử người chăm lo công việc
khai khẩn vùng đất này.
2. Được xem là đất học bởi Quảng Nam có danh tiếng khoa
bảng. Trong 32 khoa thi Hương ở trường thi Thừa Thiên dưới
triều Nguyễn (1817 - 1918), được ghi trong sách Quốc triều hương
khoa lục, có 911 người đăng khoa thì có tới 252 người quê ở
Quảng Nam đỗ liên tiếp cả 32 khoa thi. Về đại khoa, Quảng Nam
có 14 Tiến sĩ, 24 Phó bảng trong tổng số 558 vị trong cả nước.
(Dẫn theo Tỉnh ủy - Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam và Thành
ủy - Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng: Địa chí Quảng Nam Đà Nẵng, Sđd, tr.1349-1361).
16
VÕ CHÍ CÔNG - TIỂU SỬ
chuyên nghề nuôi tằm, dệt cửi, núi sông thanh tú cho
nên nhiều người có tư chất thông minh, dễ học”1.
Nói tới truyền thống hiếu học và khoa bảng của
Quảng Nam phải kể đến “tứ kiệt” là Nguyễn Đình Hiến,
Phan Châu Trinh, Võ Vỹ, Nguyễn Mậu Hoán đỗ Phó
bảng khoa thi Tân Sửu (1901); “tứ hổ”: Phạm Liệu,
Huỳnh Hanh (tức Huỳnh Thúc Kháng), Nguyễn Đình
Hiến và Võ Hoành cùng đỗ thủ khoa trong các khoa thi
kế tiếp nhau. Đặc biệt, Quảng Nam có “ngũ phượng tề
phi” là năm người Quảng Nam cùng đỗ khoa Mậu Tuất
(1898) với ba Tiến sĩ là Phạm Liệu, Phan Quang, Phạm
Tuấn và hai Phó bảng là Ngô Chuân (hay Ngô Lý) và
Dương Hiển Tiến2.
Nhưng nét tiêu biểu trên hết là tinh thần kiên cường,
bất khuất của nhân dân Quảng Nam trong đấu tranh
chống ngoại xâm. Ngay từ những ngày đầu khi thực dân
Pháp tiến hành xâm lược nước ta, nhân dân Quảng Nam
đã anh dũng đứng lên kháng chiến chống thực dân Pháp.
Ngày 1-9-1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha gồm 16
tàu chiến được trang bị vũ khí hiện đại tấn công Đà Nẵng;
___________
1. Đại Nam nhất thống chí, (bản thời Duy Tân), Bộ Quốc gia
giáo dục xuất bản năm 1964, t.5, tr. 15.
2. Tổng đốc Quảng Nam là Đào Tấn và Đốc học Trần Đình
Phong được tin này đã cho thợ thêu năm con chim phượng trên
một tấm thục, gồm ba con sải cánh (tượng trưng ba Tiến sĩ) và
hai con xếp cánh (tượng trưng hai Phó bảng) treo tại dinh Tổng
đốc trong buổi lễ đón các vị tân khoa này.
Chương I: QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH - TUỔI TRẺ...
17
triều đình nhà Nguyễn tổ chức lực lượng chống cự và chặn
được quân xâm lược ngoài cửa biển Đà Nẵng. Sau khi
Tổng đốc Lê Đình Lý bị trúng đạn trọng thương rồi hy
sinh, Thống chế Chu Phúc Minh lên thay; sau đó vua
Tự Đức điều Nguyễn Tri Phương, đang làm kinh lược sứ
Nam Kỳ ra chỉ huy mặt trận Đà Nẵng, thay cho Chu
Phúc Minh. Nguyễn Tri Phương chủ trương không đánh
trực diện với địch mà tiến hành bao vây, phục kích, vận
động nhân dân thực hiện vườn không nhà trống, cô lập
và triệt đường tiếp tế, cung cấp lương thực tại chỗ của
địch. Bởi vậy, đến hết năm 1858, quân địch không thể
phá vỡ thế phòng thủ của quân và dân Đà Nẵng để mở
rộng địa bàn chiếm đóng nhằm thực hiện mưu đồ đánh
nhanh thắng nhanh, nên phải chuyển hướng vào Nam
đánh Gia Định. Sau 18 tháng bị sa lầy, quân Pháp phải
rút khỏi Đà Nẵng1.
Sau khi triều đình nhà Nguyễn ký hiệp ước Patơnôt
ngày 6-6-1884 thừa nhận và chấp nhận nền bảo hộ của
nước Pháp, ngày 5-7-1885, tiếng súng chống Pháp do
Tôn Thất Thuyết khởi xướng nổ ở kinh đô Huế. Ngày
13-7, vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vương hô hào dân
chúng phò vua cứu nước. Hưởng ứng chiếu Cần vương,
dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước, quân dân cả
___________
1. Xem Tỉnh ủy - Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam và
Thành ủy - Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng: Địa chí
Quảng Nam - Đà Nẵng, Sđd, tr. 1336-1348.
18
VÕ CHÍ CÔNG - TIỂU SỬ
nước, trong đó có nhân dân Quảng Nam, đã kiên cường
đứng lên chống quân xâm lược. Tại Quảng Nam, từ
năm 1885 đến năm 1887, đã nổ ra cuộc đấu tranh vũ
trang do Tiến sĩ Trần Văn Dư, Phó bảng Nguyễn Duy
Hiệu, Cử nhân Phan Bá Phiến, Ấm sinh Nguyễn Thành
(Tiểu La) lãnh đạo. Các ông lập Nghĩa hội kêu gọi nhân
dân chống lại quân triều đình đầu hàng và quân đội
Pháp. Tiến sĩ Trần Văn Dư được bầu làm Thủ lĩnh hội.
Tháng 8-1885, ông ra bản cáo thị kêu gọi nhân dân
Quảng Nam đáp nghĩa Cần Vương, chống thực dân
Pháp. Ngày 4-9-1885, nghĩa quân bao vây chiếm tỉnh
thành La Qua buộc Bố chính Bùi Tiến Tiên và Tuần
phủ Nguyễn Ngoạn phải dẫn quân rút chạy. Quân
Pháp và triều đình phản công vào các căn cứ của nghĩa
quân, nghĩa quân bị thất thủ. Trần Văn Dư dùng kế
“giải binh quy điền” nhằm bảo toàn lực lượng, tính kế
lâu dài. Tháng 12-1885, giao binh quyền cho Nguyễn
Duy Hiệu, ông đi Huế định gặp vua Đồng Khánh (ông
vốn là phụ đạo giảng tập cho Đồng Khánh) để tìm cách
giải thoát khó khăn cho Nghĩa hội. Nhưng khi qua La
Thành gặp quyền Tổng đốc Quảng Nam là Châu Đình
Kế, ông bị bắt và bị bắn ngày 13-12-1885.
Nguyễn Duy Hiệu nắm Nghĩa hội đã lấy thung
lũng Trung Lộc (Quế Sơn) làm tổng hành dinh, gọi là
Tân tỉnh Trung Lộc và tổ chức đánh nhiều trận, gây
cho đối phương nhiều thiệt hại. Quân Pháp và triều
đình bao vây và đánh thẳng vào tổng hành dinh. Biết
Chương I: QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH - TUỔI TRẺ...
19
không cầm cự được, nghĩa quân vượt vây chạy về gần
cửa biển An Hòa (Tam Kỳ). Không để nghĩa quân bị
giết hại, Phan Bá Phiến uống thuốc độc tự sát để tránh
bị bắt, Nguyễn Duy Hiệu tự trói mình nạp mạng cho
đối phương để nhận lãnh hết trách nhiệm về mình
(ngày 21-9-1887). Triều đình dụ hàng, Nguyễn Duy
Hiệu không nghe và bị tử hình vào ngày 15-10-1887.
Bất chấp tương quan lực lượng chênh lệch và sự đàn
áp tàn bạo của thực dân Pháp và triều đình phong kiến,
nhân dân Quảng Nam luôn nêu cao ý chí kiên cường,
bất khuất chiến đấu chống lại kẻ thù.
Bên cạnh hình thức đấu tranh vũ trang, ở Quảng
Nam cũng xuất hiện một hình thức đấu tranh mới chống
thực dân Pháp xâm lược và chế độ phong kiến tay sai.
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, dưới tác động của tư
tưởng dân chủ phương Tây và những biến đổi của xã hội
trong nước, ở nước ta xuất hiện một xu hướng cứu nước
mới là phong trào Duy Tân được khởi xướng ở miền Trung
bởi các sĩ phu yêu nước Quảng Nam là Phan Châu Trinh,
Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng. Các lãnh tụ phong
trào chủ trương bất bạo động, khôi phục đất nước bằng
con đường “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” nâng cao dân trí, cải tổ xã hội về kinh tế, giáo dục và văn
hóa, với các hoạt động thực tiễn như mở mang kinh tế, lập
các nhà buôn lớn để tự lực, mở trường dạy học chữ quốc
ngữ, bỏ lối học khoa bảng từ chương, chú trọng khoa học
20
VÕ CHÍ CÔNG - TIỂU SỬ
và ngoại ngữ cũng như hướng đến nền chính trị dân chủ.
Một cuộc cách mạng về lối sống như cắt tóc ngắn, mặc Âu
phục cũng được thúc đẩy. Khởi đầu năm 1905, phong trào
Duy Tân tác động mạnh mẽ đến tinh thần yêu nước của
nhân dân cả nước, nhất là ở Quảng Nam, quê hương của
các lãnh tụ phong trào.
Đầu tháng 3-1908, ở Quảng Nam đã bùng nổ một
hình thức đấu tranh mới, khởi đầu cho phong trào
chống thuế, xuất phát từ huyện Đại Lộc rồi lan nhanh
tới các phủ, huyện trong tỉnh và kéo dài hơn một tháng
ở Quảng Nam và các tỉnh khác ở Trung Kỳ. Khi thực
dân Pháp mở rộng đường từ huyện Đại Lộc đi tỉnh lỵ,
nhân việc phu làm đường phản đối tri huyện ăn hối lộ,
các ông Trương Hoành, Lương Châu, Hứa Tạo, Trương
Tổn, Trương Côn, Trương Đính,... đã bàn nhau làm đơn
lấy chữ ký của dân ở các làng xã trong huyện để trình
huyện chuyển lên Tòa sứ tỉnh xin giảm nhẹ sưu, thuế.
Đêm 9-3, người dân tập hợp tại đình làng Hoằng
Phước. Sáng 10-3, họ đi tới trụ sở tổng Đức Hòa. Ngày
11-3, đoàn người đi lên tỉnh đòi bỏ lệ đi xâu và giảm
thuế. Nhân dân dọc đường tham gia ngày một đông.
Công sứ Pháp ra lệnh đàn áp nhưng không giải tán
được đoàn biểu tình. Khi Tòa sứ hứa cách chức tri
huyện, không tăng sưu, thuế nữa, đoàn biểu tình mới
giải tán dần. Cuộc biểu tình chống thuế kéo dài hơn
một tháng với sự hưởng ứng của nhân dân trong tỉnh.
Công sứ Pháp phải ra lệnh giới nghiêm và tăng cường
lính cho các phủ, huyện để đàn áp biểu tình.
Chương I: QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH - TUỔI TRẺ...
21
Nguyễn Tất Thành (Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này)
đã tham gia phong trào chống thuế ở Huế. Đây là hoạt
động có tính chất chính trị, yêu nước đầu tiên của Người.
Tất cả những hình thức đấu tranh trên tuy bị thất
bại nhưng sự nối tiếp của các phong trào này đã biểu
thị ý chí tự cường dân tộc, góp phần duy trì ngọn lửa
yêu nước và tinh thần đấu tranh anh dũng vì độc lập,
tự do của dân tộc ta cũng như nhân dân Quảng Nam
không bao giờ tàn lụi. Ý chí, tinh thần đó đã tác động
mạnh mẽ đến mọi lớp người Quảng Nam sau này.
Tiếp theo những cuộc vận động yêu nước dồn dập đầu
thế kỷ XX là phong trào đòi thả Phan Bội Châu (1925) và
để tang Phan Châu Trinh (1926), sau đó ở Quảng Nam lại
xuất hiện những hình thức đấu tranh mới như bãi khóa
của học sinh Đà Nẵng (1926) và Hội An (1927).
Năm 1927, Ban vận động Hội Việt Nam Cách mạng
Thanh niên Quảng Nam được thành lập1. Tháng 9-1927,
Chi bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên Đà Nẵng ra
đời và phát triển nhanh chóng. Tháng 10-1927, ở Hội An,
một chi bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên cũng được
thành lập do Phan Thêm (Cao Hồng Lãnh) làm Bí thư.
Trên cơ sở phát triển của các chi bộ, đầu năm 1928, Ban
___________
1. Ban này được thành lập (do phái viên của Hội Việt Nam
Cách mạng Thanh niên là Đỗ Quang vận động) gồm các thành
viên người Quảng Nam: Đỗ Quang, Đỗ Quỳ, Lê Quang Sung,
Phan Long, Thái Thị Bôi. Trường Cự Tùng được lấy làm nơi liên
lạc, hoạt động của Ban (Dẫn theo: Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà
Nẵng: Lịch sử Đảng bộ Quảng Nam - Đà Nẵng (1930 - 1975)
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 67).
22
VÕ CHÍ CÔNG - TIỂU SỬ
Chấp hành Tỉnh bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên
Quảng Nam được thành lập1.
Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Quảng Nam
là cơ sở cho sự xuất hiện của Đảng bộ Quảng Nam Đông
Dương Cộng sản Đảng (tháng 9-1929). Sau khi Đảng Cộng
sản Việt Nam ra đời (3-2-1930), ngày 28-3-1930, Ban
Chấp hành lâm thời Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam
tỉnh Quảng Nam đã được thành lập và ngày 1-5-1930, chi
bộ cộng sản đầu tiên ở Tam Kỳ cũng ra đời. Cùng với sự
xuất hiện của hệ thống tổ chức này là các hoạt động tuyên
truyền theo con đường cách mạng vô sản, trở thành xu
hướng chính của phong trào cách mạng ở Quảng Nam.
Trong lịch sử, Tam Xuân2 là một xã đồng bằng của
huyện Tam Kỳ3 cách thành phố Tam Kỳ 3km về phía bắc4.
___________
1. Gồm: Đỗ Quang, Phan Thêm, Nguyễn Tường, Nguyễn Thái,
Phan Long, Thái Thị Bôi, Lê Văn Hiến do Đỗ Quang làm Bí thư.
2. Năm 1983, huyện Tam Kỳ chia thành huyện Tam Kỳ và
huyện Núi Thành. Tam Xuân thuộc huyện Núi Thành. Năm
1994, Tam Xuân chia thành xã Tam Xuân 1 và xã Tam Xuân 2.
3. Địa danh Tam Kỳ có xuất xứ như sau: năm 1841, phủ
Thăng Hoa được vua Thiệu Trị đổi thành phủ Thăng Bình; năm
1906 (năm Thành Thái thứ 18), huyện Hà Đông đổi thành phủ
Hà Đông, sau đổi thành phủ Tam Kỳ.
4. Theo đúng tiến trình lịch sử tương ứng với hoạt động của
đồng chí Võ Chí Công, nhóm biên soạn sử dụng địa danh lịch sử
theo vùng địa lý tương ứng là phủ (huyện) Tam Kỳ. Vì đến năm
1983, huyện Núi Thành mới thành lập và là phần đất phía nam
của huyện Tam Kỳ nên có chung lịch sử của Tam Kỳ.
Chương I: QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH - TUỔI TRẺ...
23
Phía đông, Tam Xuân giáp xã Tam Tiến; phía tây,
giáp hồ thủy nông Phú Ninh và xã Tam Thạnh; phía
nam, giáp xã Tam Anh Bắc; phía bắc, giáp thành phố
Tam Kỳ.
Lịch sử hình thành vùng đất Tam Xuân gắn liền với
hiện tượng biến động lần thứ ba của vùng đất Tam Kỳ,
với sự thay đổi từ ao hồ, sông đầm trở thành đồng
ruộng. Từ đó, Tam Xuân được chia thành hai vùng chủ
yếu: vùng đồng bằng phía đông quốc lộ 1A bị chia cắt
bởi nhiều hồ, ao trũng, vũng, đầm, với những tên gọi
như Bàu Dũ, Bàu Nê, Bàu Sen...; vùng đất phía tây của
xã, phía trên quốc lộ 1A, là các dãy đồng bằng nhỏ hẹp,
đất đỏ khô cằn, xen kẽ các dãy núi thấp từ tây sang
đông, giáp với vùng đồi núi của xã Tam Thanh, chiếm
khoảng 25% diện tích tự nhiên toàn xã, gắn liền với các
tục danh như núi Bà Ty, núi Trà Quân, núi đất Vĩnh
An, núi Đèo Dài (Dôn Thành)...
Thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung
bình hằng năm ở Tam Xuân là 25,5oC; lượng mưa
trung bình 2.050mm và phân bố không đều trong
năm với độ ẩm trung bình là 83 - 85%. Bão, lũ thường
xuất hiện, gây thiệt hại nhất là vào các tháng Chín và
Mười âm lịch.
Đầu thế kỷ XX, hệ thống giao thông của Tam Xuân
chưa được đầu tư phát triển, việc đi lại trong xã chủ yếu
bằng đường đất với phương tiện thô sơ. Bị bao quanh
24
VÕ CHÍ CÔNG - TIỂU SỬ
bởi sông ngòi và đầm lầy nên giao thông đường bộ ở đây
bị hạn chế vào mùa mưa. Nhưng vì có đường thiên lý
Bắc - Nam1 đi qua nên đã tạo điều kiện thuận lợi cho
Tam Xuân trong giao lưu, buôn bán với các địa phương
trong vùng cũng như các trung tâm thương mại An
Tân, Tam Kỳ2. Từ năm 1936, tuyến đường sắt Bắc Nam do thực dân Pháp xây dựng và đưa vào khai thác
đi qua Tam Xuân đã giúp cho việc đi lại, giao thương
thuận lợi hơn, tạo điều kiện để Tam Xuân phát triển về
các mặt kinh tế, văn hóa...
Sông Bà Bầu3 ở phía tây nam Tam Xuân, bắt
nguồn từ núi Diêng Bông qua Bà Ty và núi Mã Yên,
là ranh giới giữa xã Tam Xuân và xã Tam Anh Bắc.
Phía bắc xã có sông Tam Kỳ, là nơi giáp ranh giữa
Tam Xuân và các phường An Sơn, Hoà Hương, xã
Tam Ngọc (thành phố Tam Kỳ). Sông Bà Bầu và
sông Tam Kỳ hợp lưu với sông Trường Giang, do đó
việc đi lại, buôn bán bằng đường thủy đến Tam Kỳ,
Hội An khá thuận lợi.
Với hệ thống giao thông như vậy, lại gần ngã ba
Tam Kỳ, nên Tam Xuân có nhiều thuận lợi trong giao
lưu, phát triển kinh tế, văn hoá. Nhưng do thổ nhưỡng ở
đây bạc màu, nên khả năng phát triển nông nghiệp có hạn.
___________
1. Nay là quốc lộ 1A.
2. Là phần đất thuộc xã Tam Nghĩa, nay là thị trấn Núi Thành.
3. Còn gọi là sông Trường Đồng, sông Ba Túc.
Chương I: QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH - TUỔI TRẺ...
25
Vì vậy, nhân dân Tam Xuân phải không ngừng khắc
phục mọi khó khăn trong sản xuất và tìm phương thức
thích hợp để bảo đảm cuộc sống của mình.
Cũng như nhiều địa phương khác ở Trung Trung
Bộ, cư dân đến định cư, lập nghiệp ở Tam Xuân chủ
yếu có nguồn gốc từ các tỉnh Bắc Trung Bộ (nhất là
Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh)... vào mở đất, lập làng,
tập trung theo ba đợt lớn dưới thời nhà Hồ, nhà Lê và
các chúa Nguyễn. Gia phả của các tộc họ địa phương
cho thấy các họ Mai, Nguyễn, Trần, Lê, Đỗ... vào khai
khẩn vùng đất này sớm nhất và đều là người gốc Nghệ
An di cư đến Tam Xuân vào khoảng nửa cuối thế kỷ XV.
Đặc biệt, cư dân vùng Bắc Trung Bộ di cư vào đây
nhiều nhất dưới thời Trịnh - Nguyễn (khoảng nửa cuối
thế kỷ XVIII). Phần lớn trong số họ là nông dân nghèo,
không có ruộng đất, phải đi khai hoang theo chế độ
binh điền, hoặc là những người do chống lại triều đình
phong kiến nên bị bắt lưu đày, hay muốn tránh cuộc
nội chiến tương tàn dưới thời Trịnh - Nguyễn... Bởi
vậy, họ đều oán ghét chế độ phong kiến thối nát và
chiến tranh cát cứ.
Trước những khó khăn, khắc nghiệt của điều
kiện tự nhiên, nhân dân Tam Xuân đã phát huy tinh
thần lao động cần cù, đoàn kết đấu tranh, dần dần
khai phá vùng đất khô cằn này, tạo dựng thành xóm
26
VÕ CHÍ CÔNG - TIỂU SỬ
làng, ổn định cuộc sống. Do vậy, bên cạnh những đặc
tính truyền thống của người Việt, con người nơi đây
cũng hình thành những tính cách riêng mạnh mẽ và
thực tế.
Hoạt động kinh tế của Tam Xuân chủ yếu là sản
xuất nông nghiệp nhỏ, tự cấp, tự túc, lệ thuộc khá
nhiều vào tự nhiên. Lúa là cây lương thực chính ở đây,
nhưng phần lớn diện tích trồng lúa (vụ đông) dựa vào
nước mưa và nguồn nước tự nhiên ở các hồ, đập. Để
khắc phục sự khắc nghiệt của thiên nhiên, nhân dân
Tam Xuân đã tận dụng các hồ nước tự nhiên trên địa
bàn và xây dựng hệ thống kênh mương dẫn nước về các
cánh đồng Bàu Dũ, Bàu Ốc, Bàu Nê... nhưng vào những
năm khô hạn, lượng nước không đủ, làm cho năng suất
lúa rất thấp. Tuy nhiên, các loại hoa màu như lạc, vừng
lại phù hợp với thổ nhưỡng và khí hậu nên năng suất
khá ổn định.
Trước năm 1930, nông dân chỉ có khoảng 1% ruộng
đất, còn lại nằm trong tay địa chủ, phú nông. Do vậy,
vào những lúc nông nhàn, nhân dân thường rủ nhau đi
mua khoai, sắn, lạc ở khắp nơi về bán kiếm lời và tổ
chức ép dầu lạc để bán. Nghề ép dầu lạc phát triển nhất
ở khu vực các thôn Khương Mỹ, Bích Ngô.
Chăn nuôi hộ gia đình chủ yếu là trâu, bò để lấy sức
kéo và phân bón cho sản xuất. Chăn nuôi gia cầm chỉ để
đáp ứng nhu cầu thực phẩm hằng ngày. Những người
Chương I: QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH - TUỔI TRẺ...
27
dân sống dọc theo sông Trường Giang có nghề đánh bắt
thủy sản bằng những dụng cụ thô sơ nên sản lượng
thấp, chủ yếu phục vụ bữa ăn gia đình và để trao đổi
các mặt hàng thiết yếu cho đời sống.
Giao thương hàng hóa ở Tam Xuân phát triển từ
khá sớm. Từ thời Gia Long, ở đây đã hình thành quán
Khương Mỹ1, sau mở rộng thành xóm quán chạy dài từ
đầu cầu Tam Kỳ đến khu vực cống Trắng. Đây là nơi
giao lưu, buôn bán với các địa phương khác thông qua
đường bộ và đường sông Tam Kỳ. Chợ Bà Bầu (thôn Bà
Bầu) được hình thành dưới thời Pháp thuộc, là nơi buôn
bán, trao đổi hàng hóa với các xã trong vùng như Vân
Trai (xã Tam Hiệp), Diêm Phổ (xã Tam Anh Nam), An
Hòa (xã Tam Hải), Tam Hà (xã Tam Tiến), An Tân (nay
thuộc thị trấn Núi Thành)...2.
Ngoài ra, ở Tam Xuân còn có một số người hành
nghề thuốc đông y, thợ cắt tóc, thợ may, thợ mộc. Do
những khó khăn, thanh niên Tam Xuân thường đi làm
ăn xa quê tới các đô thị, đồn điền,...
Tín ngưỡng ở Tam Xuân chủ yếu là thờ cúng ông bà,
tổ tiên. Làng nào cũng có đình thờ thành hoàng hoặc
___________
1. Nay thuộc thôn Khương Mỹ, xã Tam Xuân 1.
2. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, chợ Bà Bầu đáp
ứng yêu cầu trao đổi hàng hóa thiết yếu của nhân dân trong
vùng và cung ứng các mặt hàng phục vụ kháng chiến.
28
VÕ CHÍ CÔNG - TIỂU SỬ
thờ tiền hiền có công khai cơ, lập nghiệp1. Đình làng
Vĩnh An2, đình làng Phú Hưng3 được nhân dây xây
dựng để làm nơi thờ tự các vị tiền nhân đã có công khai
phá vùng đất này. Đặc biệt, giỗ Tổ Hùng Vương và cúng
tiền hiền hằng năm đúng vào ngày 10 tháng Ba âm lịch
hoặc vào dịp đầu năm mới. Trước năm 1930, Tam Xuân
chỉ có một ngôi chùa nhỏ ở thôn Trường An.
Tam Xuân là vùng đất vốn thuộc địa bàn cư trú của
người Chăm từ xa xưa, gắn với nhiều di tích lịch sử văn hóa đặc sắc và phong phú như di tích Bàu Dũ, di
tích Tam Mỹ, tháp Khương Mỹ4. Bởi vậy, các phong tục
___________
1. Đến năm 1936, đạo Tin lành xuất hiện tập trung ở các
làng Phú Hưng, Vĩnh An (Tam Xuân) nhưng không có nhà thờ.
Tín đồ sinh hoạt cùng tín hữu Tin lành ở Tam Kỳ.
2. Đình làng Vĩnh An (xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ XV)
thờ Mai Vă...
 





